+ Viết bài mới
Hiện kết quả từ 1 tới 3 của 3
  1. #1
    Tham gia ngày
    Dec 2009
    Đến từ
    @Gió~~~~♥
    Bài gửi
    1.738
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post
    Năng lực viết bài
    389

    Angry Những Điều Họ Đeo Mang

    Lời giới thiệu của người dịch: Tim O’Brien (1946 – ) là người được trao giải văn học National Book Award năm 1979 với quyển Going After Cacciato. Ông cũng là tác giả của tác phẩm Những Điều Họ Đeo Mang (The Things They Carried) (được chọn vào chung kết của giải Putlizer và sau đó được trao giải National Book Critics Circle Award); và quyển If I Die in a Combat Zone, một hồi ký về chiến tranh Việt Nam. Những Điều Họ Đeo Mang, trước khi trở thành một chương truyện trong tác phẩm meta-fiction mang cùng tựa đề, được chọn là truyện ngắn hay nhất năm 1987, và đã xuất hiện trong tuyển tập Những Truyện Ngắn Hoa Kỳ Hay Nhất Thế Kỷ 20 (The Best American Short Stories of the Century), chủ biên John Updike (nxb Houghton Mifflin: 2000). Bản dịch Việt ngữ đã được dựa trên nguyên bản này.





    Thiếu úy Jimmy Cross cất giữ những lá thư từ Martha, cô sinh viên năm thứ ba Đại học Mount Sebastian ở New Jersey. Những lá thư này không phải là thư tình, tuy nhiên Thiếu úy Cross vẫn nuôi hy vọng, vì thế anh gấp chúng lại, bọc trong bao nhựa và xếp tận ở dưới đáy ba lô. Buổi chiều, sau một ngày hành quân, anh đào hố cá nhân, rửa tay bằng nước chứa trong bi-đông, mở cái bao nhựa có những lá thư, nhón tay cầm những lá thư đưa chúng ra dưới ánh sáng một cách trịnh trọng giả vờ như đấy là những bức thư tình.
    Anh tưởng tượng những buổi cắm trại lãng mạn trong núi White Mountains ở tiểu bang New Hampshire. Anh cũng thỉnh thoảng liếm nắp phong bì, biết nơi ấy cô nàng đã đặt lưỡi. Trên tất cả, anh chỉ muốn được Martha yêu, như anh đã yêu nàng; tuy nhiên, những lá thư chỉ nói chuyện vẩn vơ, không đề cập gì đến tình yêu. Nàng vẫn còn là một cô thiếu nữ trinh nguyên, anh chừng như có thể cam đoan điều này. Nàng học văn chương ở Đại học Mount Sebastian và nàng viết những lá thư rất hay nói về giáo sư, bạn học, và những kỳ thi giữa khóa. Nàng nói rất nể phục nhà văn Chaucer và yêu thích Virginia Woolf. Nàng thường trích dẫn thơ nhưng tuyệt nhiên không đả động gì đến chiến tranh, ngoại trừ câu nói, Jimmy, anh phải cẩn thận. Lá thư cân nặng 283g, cuối lá thư được ký tên dưới chữ Thương, Martha, nhưng Thiếu úy Cross hiểu rằng chữ Thương ở đây chỉ là một chữ theo thói quen người ta dùng để chấm dứt lá thư chứ không có nghĩa thương yêu như anh vẫn đôi khi dối mình nó có nghĩa thương yêu thật sự. Khi chiều buông, anh cẩn thận cất những lá thư vào ba lô. Thong thả, hơi lơ đễnh, anh đứng lên di chuyển giữa đội ngũ, kiểm soát chung quanh, và khi trời hoàn toàn tối đen anh trở về hố cá nhân nhìn đêm tối, tự hỏi có thật Martha vẫn còn là một thiếu nữ trinh nguyên không.

    Có những thứ họ mang bởi vì cần thiết. Giữa những thứ cần thiết, có những thứ ít cần thiết hơn như đồ mở hộp P-38, dao con loại bỏ túi, viên nguyên liệu để đốt lửa, đồng hồ đeo tay, thẻ bài, thuốc chống muỗi, kẹo cao su, kẹo viên, thuốc lá, muối viên, mấy gói bột Kool-Aid để pha nước uống, bật lửa, diêm quẹt, kim chỉ, thẻ lãnh lương, thẻ lãnh phần thức ăn, hai hay ba bi-đông nước. Tổng cộng những thứ này cân nặng từ 6.5 kg cho đến 9 kg, tùy theo thói quen và sức tiêu thụ của mỗi người. Henry Dobbins, một anh chàng to béo, đã mang theo thức ăn nhiều hơn mức cố định, hắn đặc biệt rất yêu thích loại trái đào đóng hộp ngâm trong nước đường thật ngọt để trên mặt bánh bông lan. Dave Jensen, rất quan tâm việc vệ sinh cho mồm và răng, mang theo bàn chải đánh răng, dây tơ xỉa răng, và vài thỏi xà bông nho nhỏ loại người ta hay dùng trong khách sạn hắn đã trộm trong R&R ở Sydney, Australia. Ted Lavender, hay sợ hãi, luôn luôn mang theo thuốc an thần cho đến khi hắn bị bắn vào đầu ở bìa làng Than Khe vào giữa tháng Tư. Bởi vì cần thiết và cũng bởi vì luật của quân đội, tất cả đều phải đội nón sắt nặng khoảng 250g kể cả vải lót và vải bọc.
    Họ phải mặc quân phục. Một vài người mang theo quần lót. Họ phải mang giày bốt, nặng một 1kg – và Dave Jensen mang theo ba đôi vớ với một chai bột trừ mùi hôi trong giày. Cho đến khi bị bắn, Ted Lavender mang theo khoảng chừng 2g cần sa loại tốt nhất, bởi vì đối với hắn những thứ này rất cần thiết. Mitchell Sanders, chuyên viên truyền tin, mang theo condom. Norman Bowker mang nhật ký. Rat Kiley mang truyện tranh. Kiowa, một người rất tin đạo Baptist, mang quyển Tân Ước quà của ông bố, người đã từng dạy tôn giáo mỗi Chủ nhật ở thành phố Oklahoma thuộc tiểu bang Oklahoma. Như để ngăn ngừa chuyện không hay, Kiowa mang trong lòng nỗi nghi kỵ người da trắng hắn đã thừa hưởng của bà nội và cái rìu đi săn của ông nội. Những thứ đó là những thứ cần thiết. Bởi vì mặt đất bị cài mìn và đặt bẫy, qui luật của quân đội bắt buộc mỗi quân nhân phải mặc áo giáp, bên ngoài là vải ny lông bên trong có lót thép.
    Cái áo giáp này nặng 3kg, nhưng trong những ngày nóng bức dường như nó nặng nề hơn. Bởi vì bạn có thể chết rất nhanh, mỗi người mang theo ít nhất là một một tấm băng lớn có sức ép thật mạnh để ngăn chảy máu, thường thường được cất trong mũ sắt để tiện dùng. Bởi vì ban đêm thường khá lạnh và mùa mưa rất ướt át, mỗi người phải mang một cái poncho màu xanh lá cây vừa che mưa vừa dùng làm lều tạm trú. Với tấm vải lót kèm theo, cái poncho nặng khoảng 900g nhưng công dụng của nó xứng đáng từng gram. Thí dụ như, trong tháng Tư lúc Ted Lavender bị bắn, họ dùng cái poncho của hắn để bao bọc thân thể hắn, rồi khiêng hắn băng đồng, đưa lên phi cơ trực thăng chở hắn đi.
    Họ gọi những thứ đó là legs hay grunts. Tiếng lóng dùng để chỉ những thứ nặng nề nhọc nhằn ngoài sức diễn tả.

    Mang một vật gì thì gọi là khuân, như khuân của nợ hay như con lạc đà khuân cái bướu trên lưng. Như Thiếu úy Jimmy Cross đã khệ nệ khuân cái tình yêu anh dành cho Martha leo đồi và băng đầm lầy. Chữ khuân ở đây ám chỉ một sức trì trệ ray rức nặng nề hơn nghĩa của nó.
    Hầu như người nào cũng khuân theo một vài tấm ảnh.
    Trong ví, Thiếu úy Cross đã giữ hai tấm ảnh của Martha. Tấm ảnh đầu là một tấm ảnh màu Kodac có viết chữ Thương, dù anh biết là nó không mang nghĩa như thế. Nàng đứng tựa vào một tường gạch. Đôi mắt xám không biểu lộ vui buồn, môi hé mở khi nàng nhìn thẳng vào máy ảnh. Đôi khi, trong đêm tối, Thiếu úy Cross tự hỏi ai đã chụp cho nàng tấm ảnh ấy bởi vì anh biết nàng có nhiều bạn trai, bởi vì anh yêu nàng quá, và bởi vì anh nhìn thấy cái bóng của người chụp ảnh trải lên trên tường gạch. Tấm ảnh thứ hai được cắt từ quyển niên giám của trường Mount Sebastian năm 1968. Đó là một bức ảnh chụp trong lúc di động
    – đội bóng chuyền nữ
    – và Martha đang cúi người nằm rạp song song với mặt đất, nhoài người vói quả banh, lòng bàn tay của nàng thật rõ nét, lưỡi đanh lại giữa đôi môi, nét biểu hiện rất thật và đầy tranh đua. Không thấy rõ những giọt mồ hôi. Nàng mặc quần thể thao ngắn màu trắng.
    Đôi chân của nàng, anh nghĩ, chắc bẫm là đôi chân xử nữ, khô và mịn trơn, đầu gối bên trái hơi co lại và chịu toàn thể sức nặng của nàng, chừng hơn 45 kg. Thiếu úy Cross nhớ là đã từng sờ vào cái đầu gối này. Trong bóng tối của rạp chiếu phim, anh còn nhớ, phim Bonnie and Clyde, Martha đã mặc một cái váy bằng vải tuýt xô, phim đang chiếu màn cuối, khi anh sờ đầu gối nàng, nàng quay lại nhìn anh bằng vẻ buồn bã nhưng trầm tỉnh làm anh phải rút tay về. Tuy nhiên anh nhớ mãi cảm giác của cái váy và cái đầu gối dưới làn vải và tiếng súng đã giết chết Bonnie cùng với Clyde, anh đã hổ thẹn như thế nào, chậm chạp và tự kềm chế ra sao. Anh nhớ đã hôn nàng đêm ấy, lúc chào từ giã ở cửa phòng nội trú của sinh viên. Ngay lúc ấy, anh nghĩ, anh nên làm một cái gì thật gan dạ. Anh nên bế nàng, leo những bậc thang, vào phòng cột nàng vào giường, và mân mê cái đầu gối trái ấy suốt đêm. Đáng lẽ anh nên mạo hiểm làm chuyện ấy. Rồi mỗi khi anh nhìn tấm ảnh anh lại nghĩ thêm nhiều điều mới mà đáng lẽ anh nên làm.

    Những thứ họ mang theo một phần tùy thuộc vào cấp bậc, và một phần tùy thuộc sở trường của họ trên mặt trận.
    Là Thiếu Úy và cũng là trung đội trưởng, Jimmy Cross mang la bàn, bản đồ, sách kỹ luật, ống nhòm, và một khẩu súng lục nòng .45 cân nặng 1.3 kg và mang trách nhiệm về mạng sống của thuộc cấp.
    Là nhân viên truyền tin, Mitchell Sanders mang cái dadio PRC-25, cái máy bị xem là đồ giết người, gần 12 kg tính luôn bình điện.
    Là nhân viên cứu thương, Rat Kiley mang một cái túi vải chứa đầy mọt phin và huyết thanh và thuốc chống sốt rét và băng giải phẩu và sách tranh ảnh và tất cả những thứ một người cứu thương cần phải mang, ngay cả kẹo sô cô la M&M, đặc biệt dành cho những người bị thương nặng, tất cả sức nặng chừng 9kg.

    Là một người to béo nên được thủ cây súng máy, Henry Dobbins mang M-60, nặng hơn 10 kg lúc chưa nạp đạn và khoảng 4.5 kg cho đến 6 kg đạn quàng ngang ngực và trên vai.
    Là binh nhì, họ khuân những thứ nặng nề thông thường theo tiêu chuẩn. M-16, vũ khí này nặng khoảng 3.3 kg khi chưa có đạn và khoảng 3.7 kg khi có một băng đạn chừng 20 viên đạn. Tùy theo nhiều yếu tố, như địa thế và tâm lý, những người dùng súng trường mang từ 12 cho đến 20 băng đạn chứa trong bao vải, ít nhất là 3.8 kg và nhiều nhất khoảng chừng 6.3 kg. Khi có sẵn đồ, họ cũng mang theo dụng cụ để lau chùi M-16 – que và bàn chải sắt và vải lau và các ống dầu LSA – tất cả các thứ này cộng lại chừng nửa kí lô.

    Bên cạnh các thứ nặng nề, có người khuân súng phóng lựu M79, khi chưa nạp đạn nặng 2.7 kg, tương đối khá nhẹ ngoại trừ lựu đạn rất nặng. Mỗi một trái lựu đạn nặng đến 280g. Mỗi một băng lựu đạn thường có 25 quả. Nhưng Ted Lavender, người hay sợ hãi, đã mang 34 quả. Khi bị bắn ở bìa làng Than Khe, anh ngã xuống lúc mang trọng lượng quá mức bình thường, hơn 9 kg đạn dược, cùng với áo giáp và mũ sắt và phần ăn và nước uống và giấy đi cầu và thuốc cần sa và tất cả các thứ còn lại cùng với một nỗi sợ hãi không thể cân được. Anh ta là một sức nặng chết. Không vặn vẹo hay co giật. Kiowa, người đã chứng kiến cái chết của Ted, nói anh ta ngã xuống như một hòn đá rơi, hay một túi cát hay một cái gì đó
    – chỉ có bùm, rồi gục xuống
    – không giống như trong phim ảnh khi mà người chết lăn vòng vòng và quay mòng mòng và rơi vượt qua ấm trà
    – không giống như thế, Kiowa nói, thằng con dại chỉ sụm xuống.
    Bùm. Gục xuống. Không có gì khác hơn. Đó là một buổi sáng tháng Tư đầy nắng. Thiếu úy Cross cảm thấy đau đớn. Anh tự trách mình. Họ tháo gở bình nước và đạn được của Lavender, tất cả những thứ nặng nề, và Rat Kiley nói chuyện hiển nhiên, cái thằng ấy chết rồi, và Mitchell Sanders dùng radio báo cáo lính Mỹ chết trong lúc làm nhiệm vụ xin gởi máy bay trực thăng. Rồi họ quấn Lavender bằng cái poncho của hắn. Họ khuân hắn ra chỗ đồng khô, thiết lập vòng đai an ninh, và ngồi đó chia nhau hút cho hết tất cả những thứ ma túy của hắn cho đến khi máy bay trực thăng đến. Thiếu úy Cross giữ im lặng, ngồi một mình. Anh ta tưởng tượng đến gương mặt mịn màng non trẻ của Martha, nghĩ rằng anh yêu nàng hơn tất cả mọi thứ trên đời và không thể nào ngừng nghĩ đến nàng. Khi máy bay trực thăng đến họ mang Lavender lên máy bay. Sau đó họ đốt cháy rụi làng Than Khe. Họ hành quân cho đến chạng vạng tối, rồi đào hố cá nhân, và đêm ấy Kiowa cứ tiếp tục giải thích lý do sự hiện diện của bọn họ ở chỗ này, nó nhanh làm sao, cách thằng đáng thương ấy ngã xuống như là bao xi măng. Bùm-gục xuống, hắn nói. Như một bao xi măng.

    Bên cạnh ba loại vũ khí căn bản – M-60, M-16, và M-79 – họ còn mang theo bất cứ thứ gì khi những thứ này tự giới thiệu về sự hiện diện của chúng, hay bất cứ những gì thích hợp dùng để giết người hay để tự cứu mạng sống của mình. Họ mang những gì họ gặp, những gì có sẵn. Vào những lúc khác nhau, ở những tình huống khác nhau, họ mang M-14 và CAR-15 và K Thụy điển và mỡ dầu dùng để lau súng và AK 47 được tịch thu và Chi-com[1] và RPG[2] và súng các bin Simonov và súng Uzis mua ở chợ đen và súng lục .38 Smith & Wesson và 66 mm LAW và súng shotguns có hãm thanh và blackjacks và dao găm và chất nổ plastic C-4. Lee Strunk mang theo cái ná, hắn gọi là loại vũ khí cuối cùng khi không còn phương tiện nào khác. Mitchell Sanders mang cái găng tay có dát đồng. Kiowa mang cái rìu có gắn lông chim của ông nội. Người thứ ba, hay người thứ tư mang mìn Claymore – 1.6 kg cùng với ngòi nổ.
    Họ mang lựu đạn – mỗi trái gần 400g.
    Họ mang ít nhất là một trái lựu đạn khói màu – 680g.
    Có người mang lựu đạn cay.
    Họ mang bất cứ thứ gì họ có thể mang nổi, và có một số người nhận ra, những thứ họ mang bao gồm cả một sự sợ hãi cái sức mạnh khủng khiếp của những đồ vật họ mang.

    Tuần đầu tiên trong tháng Tư, trước khi Lavender chết, Thiếu úy Jimmy Cross được món quà nhỏ, bùa hộ mạng, do Martha tặng. Đó là một hòn cuội nặng lắm là 28g, nhẵn thín, màu trắng sữa lấm tấm những đốm màu cam và tím, hình bầu dục, như một quả trứng con con. Trong lá thư kèm theo, Martha viết là nàng nhặt được hòn cuội ở bờ biển New Jersey, ngay chỗ nước thủy triều dâng cao tiếp giáp bờ biển, nơi những thứ gặp nhau nhưng vẫn xa nhau. Và chính vì cái tính chất bên nhau mà vẫn xa nhau này, nàng viết, đã xui khiến nàng nhặt hòn cuội và giữ nó trong túi áo trên ngực đôi ba ngày. Ở trong túi áo trên ngực nàng hòn cuội dường như không có sức nặng. Sau đó nàng gửi nó kèm theo trong thư, theo đường hàng không, như một bằng chứng về cái tình cảm chân thật nhất nàng dành cho anh. Thiếu úy Cross thấy chuyện này lãng mạn quá, nhưng anh tự hỏi không biết tình cảm chân thật nhất của nàng, nói cho chính xác, là cái gì, và cũng không hiểu nàng ngụ ý gì về cái ở bên nhau mà vẫn xa nhau. Anh tự hỏi thủy triều dâng làm sao và những ngọn sóng lăn tăn thế nào vào buổi chiều hôm ấy, trên bờ biển Jersey, khi Martha nhìn thấy hòn cuội, cúi xuống nhặt và cứu nó ra khỏi vùng đất này. Anh tưởng tượng đôi chân trần. Martha là một nhà thơ, bản tính thi sĩ, đôi chân nâu trần, móng chân không sơn phết, đôi mắt lạnh giá và thẫn thờ như mặt đại dương của tháng Ba, và tuy đau đớn anh cũng tự hỏi nàng đã đi dạo biển cùng ai chiều hôm ấy. Anh tưởng tượng đôi bóng bước dọc theo dải cát nơi mọi vật ở gần bên nhau nhưng vẫn xa nhau. Đó là một cơn ghen bóng gió, anh biết, nhưng anh không thể tự kềm chế. Anh yêu nàng nhiều quá. Trong lúc hành quân, qua những ngày nóng bức đầu tháng Tư, anh ngậm hòn cuội trong mồm, dùng lưỡi đảo nó, nếm mùi muối biển và vị ẩm ướt. Tâm hồn anh đi hoang. Anh khó lòng tập trung tư tưởng vào cuộc chiến tranh này. Thỉnh thoảng anh la mắng thuộc cấp của anh phải đi cách xa ra, chú ý đến chung quanh, nhưng chính anh rồi cũng rơi vào cơn mơ mộng, tưởng tượng, đi chân trần dọc bờ biển, với Martha, không mang gì trên người. Anh cảm thấy hứng lên, mặt trời và sóng biển và gió mơn man, chỉ có tình yêu và đời nhẹ thênh thang.

    Có những thứ họ mang theo tùy thuộc vào nhiệm vụ.
    Khi nhiệm vụ bắt họ lên núi, họ mang theo màn che muỗi, mã tấu, những tấm bạt để che, và mang thuốc chống muỗi nhiều hơn bình thường.
    Nếu nhiệm vụ có vẻ cực kỳ nguy hiểm, hay nó xảy ra ở địa điểm nổi tiếng là chết chóc, họ mang tất cả những gì họ có thể mang. Chắc chắn là phải mang mìn loại nặng AO, nơi mà mặt đất đầy dẫy với Toe Poppers[3]Bouncing Betties[4] họ thay phiên nhau khuân máy dò mìn nặng 12.6kg. Với bộ hãm thanh và cái mâm dò mìn thật to, dụng cụ này quá nặng làm đau lưng và mỏi vai, khó xoay trở lúc sử dụng, thường khi vô dụng bởi vì có vô số mảnh kim loại dưới mặt đất, tuy thế họ vẫn mang nó theo, một phần để bào vệ an toàn, một phần vì cái ảo tưởng an toàn nó mang đến.

    Khi phục kích, hay thực hiện nhiệm vụ trong đêm, họ mang theo những thứ lặt vặt đặc biệt. Kiowa luôn luôn mang theo quyển Tân uớc và đôi giày da mềm để đi không có tiếng động. Dave Jensen mang thuốc bổ có chất carotene trợ giúp mắt nhìn ban đêm. Lee Strunk mang cái ná và bì để bắn, hắn tuyên bố là sẽ chẳng bao giờ có chuyện không lành. Rat Kiley mang rượu brandy và kẹo M&M. Cho đến khi bị bắn Ted Lavender mang cái viễn vọng kính để nhìn sao, cái này cân nặng 2.85kg với cái hộp chứa bằng nhôm. Henry Dobbins quấn chung quanh cổ anh ta đôi tất bằng nylon của người yêu để thấy bình yên dễ chịu. Tất cả đều mang trong lòng những bóng ma. Khi màn đêm rơi xuống, họ đi hàng một, băng ngang đồng khô hay ruộng nước đến chỗ phục kích, nơi ấy họ đặt mìn Claymore, rồi nằm chờ suốt đêm.

    Những nhiệm vụ khác phức tạp hơn đòi hỏi dụng cụ đặc biệt. Vào giữa tháng Tư, nhiệm vụ của họ là tìm kiếm và phá hủy hệ thống đường hầm rất tinh vi ở Than Khe phía Nam Chu Lai. Để phá tung hệ thống đường hầm này họ mang theo những khối chất nổ pentrite rất mạnh, mỗi khối nặng chừng nửa kí, mỗi người mang bốn khối, tất cả là chừng 30kg. Họ mang theo dây thuốc nổ, ngòi nổ, và những cái bật lửa bằng pin. Dave Jensen mang theo đồ bảo vệ lỗ tai. Thường xuyên trước khi đánh nổ đường hầm, cấp trên ra lệnh họ phải khám xét. Đây là chuyện không hay tuy nhiên họ vẫn nhún vai hứng chịu và thi hành mệnh lệnh. Vì to béo, Henry Dobbins được miễn cho nhiệm vụ khám đường hầm. Những người còn lại phải rút thăm. Trước khi Lavender chết ở đó, có 17 người trong trung đội và người nào bị rút trúng số 17 phải cởi hết đồ trang bị, chui vào đường hầm cái đầu đi trước mang theo cái đèn bấm và khẩu súng lục .45 của Thiếu úy Cross. Nhóm người còn lại phải tản mác để bảo vệ an toàn. Họ sẽ ngồi hoặc quì, không đối diện với đường hầm, lắng nghe tiếng động dưới mặt đất dưới chân họ, tưởng tượng đến mạng nhện và ma, hay bất cứ cái gì dưới ấy
    – đường hầm rất bé hẹp
    – cái đèn bấm trở nên nặng vô cùng và ánh sáng ấy trong đường hầm bị giới hạn không thể nhìn xa, người ta dễ cảm thấy bị vây bủa đè ép từ bốn phía, ngay cả thời gian cũng không đứng về phe của bạn, và bạn phải nhúc nhích từng chút một để chui vào
    – cả mông đít lẫn cùi chõ
    – một cảm giác bị nuốt chửng
    – và bạn thấy mình lo sợ đủ thứ kể cả những chuyện không đâu vào đâu. Liệu cái đèn bấm có sẽ tắt ngấm không? Chuột có mang bệnh dại không? Nếu bạn kêu gào tiếng vang sẽ đi xa đến đâu? Đồng đội của bạn có nghe không? Liệu họ có đủ can đảm kéo bạn ra khỏi đường hầm không? Ở vài khía cạnh, dù không nhiều, sự chờ đợi kinh khủng hơn là chính cái đường hầm. Sự tưởng tượng là kẻ giết người.

    Ngày 16 tháng Tư, khi Lee Strunk rút trúng số 17, hắn cười phá lên, nói lầm bầm cái gì đó rồi nhanh chóng xuống đường hầm. Buổi sáng mà trời đã nóng và không gian rất yên lặng. Không tốt. Kiowa nói. Hắn nhìn miệng hầm rồi nhìn băng qua cánh đồng khô hướng về phía làng Than Khe. Im lìm không một bóng di động. Không mây, chim chóc, hay người ta. Lúc chờ đợi, đám lính hút thuốc, uống Kool-Aid, không nói gì với nhau chỉ cảm thấy tội nghiệp cho Lee Strunk nhưng cũng mừng là mình đã chẳng bắt trúng thăm. Được cái này, mất cái kia. Mitchell Sanders nói, đôi khi bạn phải chờ lần sau. Đó là một câu nghe mãi đến nhàm chẳng ai cười.
    Henry Dobbins ăn một thỏi sô cô la ở miền nhiệt đới. Ted uống một viên thuốc an thần và đi tiểu.

    Năm phút sau, Thiếu úy Jimmy Cros đến gần đường hầm, nghiêng người xuống, quan sát bóng tối. Không yên tâm, anh nghĩ – cái hầm có thể bị sụp.
    Bất thình lình, ngoài ý muốn, anh nghĩ đến Martha. Những chấn động, những rạn nứt, sự sụp đổ nhanh chóng, cả hai người bị vùi lấp dưới sức nặng. Tình yêu dày đến độ có thể đè người ta bẹp dúm. Quì gối nhìn cửa hầm, anh cố gắng tập trung tư tưởng về Lee Strunk và chiến tranh, tất cả những nỗi hiểm nguy, nhưng anh không chịu nổi tình yêu này, anh cảm thấy tê dại, anh muốn được ngủ trong lồng phổi của nàng và thở trong máu của nàng và anh muốn bị đè ngạt. Anh muốn nàng vừa là trinh nữ vừa không là trinh nữ. Anh muốn hiểu muốn biết về nàng. Biết những bí mật rất thân thiết: như tại sao lại yêu thơ?
    Tại sao hay buồn?
    Tại sao có màu xám trong đôi mắt?
    Tại sao thường đơn độc?
    Không cô đơn, chỉ một mình
    – đạp xe băng ngang khuôn viên của trường hay ngồi một mình trong cafeteria
    – ngay cả khi khiêu vũ nàng cũng khiêu vũ một mình
    – và tất cả những chuyện đơn độc ấy trở thành tình yêu lấp đầy trong anh.
    Anh nhớ có lần nói với nàng trong một buổi tối. Cách nàng gật đầu rồi nhìn lảng ra chỗ khác. Và sau đó, khi anh hôn nàng, cách nàng nhận cái hôn mà không đáp lại, mắt nàng mở to, không sợ hãi, không phải là đôi mắt của một cô gái trinh nguyên, chỉ vô cảm và không lưu luyến vương vấn gì cả.

    Thiếu úy Cross nhìn đường hầm trân trối nhưng anh không có mặt ở đấy. Anh đang được vùi chung với Martha dưới cát trắng của bờ biển Jersey. Họ ghì chặt lấy nhau, và viên cuội trong miệng anh là lưỡi nàng. Anh mỉm cười. Mù mờ, anh nhận biết cái im vắng của ngày hôm ấy, cánh đồng im lìm như dỗi hờn, tuy thế anh đã chẳng thể nào chú tâm vào việc bảo vệ an toàn. Anh ở bên ngoài điều ấy. Anh chỉ là một đứa bé đang chơi trò chơi chiến tranh, đó là tình yêu. Anh mới hai mươi bốn tuổi. Anh không thể tự kềm chế mình.
    Một ít lâu sau, Lee Strunk bò ra khỏi đường hầm. Hắn cười nhe răng, bẩn thỉu nhưng vẫn còn sống nhăn. Thiếu úy Cross gật đầu và nhắm mắt lại trong khi những người kkác vỗ lưng Strunk và nói đùa về việc chết đi sống lại.
    Giun. Rat Kiley nói. Xuất hiện từ trong cái mộ này. Đồ quỷ khốn nạn.
    Mọi người cười. Họ cảm thấy nhẹ nhõm.

    Lee Strunk giả tiếng ma hú để đùa cợt, nghe như tiếng rên, nhưng vui vẻ hơn, và ngay khi Strunk hú tiếng hú ma quái mà vui vẻ, khi mà hắn kêu ahhhuuu, chính lúc ấy Ted Lavender bị bắn vào đầu khi hắn đi tiểu xong và quay trở lại. Hắn nằm, miệng mở toác. Hàm răng của hắn bị vỡ nát. Dưới con mắt bên trái có một vết sưng bầm đen. Xương gò má biến mất. Ô, cứt thật, Rat Kiley nói, cái thằng ấy chết rồi. Cái thằng ấy chết rồi. Hắn tiếp tục lập lại, như thể đây là điều sâu sắc lắm
    – Cái thằng ấy chết rồi. Tôi nói chết thật mà, chết ngắc.
    Có những thứ họ mang theo vì mê tín dị đoan. Thiếu úy Cross mang hòn cuội làm lá bùa hộ mạng. Dave Jensen mang một cái chân thỏ, Norman Bowker, bình thường là một người chân chất hiền lành, mang một ngón tay cái, đó là món quà của Mitchell Sanders tặng cho hắn. Ngón tay cái màu nâu sậm, trơn bóng, nặng chừng 110g là nhiều nhất. Nó được cắt từ cái thây của một chú bé VC, chừng 15 hay 16 tuổi. Họ tìm thấy chú ở dưới rãnh ruộng, cháy đen, ruồi bu đầy mồm và mắt. Chú thiếu niên mặc quần đùi đen và dép râu. Lúc chết chú ấy mang một bọc gạo, khẩu súng, và ba băng đạn.
    Bạn muốn biết ý kiến của tôi, Mitchell Sanders nói, chắc chắn có một bài học ở đây.
    Hắn đặt tay lên cổ tay người chết. Hắn im lặng một đỗi, như thể bắt mạch, xong rồi hắn vỗ bụng của cái xác, như đầy thương xót, và dùng cái rìu đi săn của Kiowa cắt ngón tay cái.
    Henry hỏi cái bài học đó là gì?
    Bài học?
    Chú mày biết mà. Bài học.
    Sanders dùng giấy đi cầu gói ngón tay lại và đưa nó cho Norman Bowker. Không có máu. Mỉm cười, hắn đá vào đầu chú bé, nhìn đám ruồi bay tán loạn, và nói. Nó giống như một chương trình TV cũ – Paladin. Có súng, sẽ du hành.
    Henry nghĩ về điều này.
    Ừ, hừm. cuối cùng hắn mở miệng. Tao chẳng thấy bài học nào cả.
    Đó nó đó. Mày sao kỳ quá.
    Đù mẹ mày.
    Họ mang giấy USO bút chì và bút mực. Họ mang Sterno, kim băng, đèn đánh dấu đường, đèn làm tín hiệu, cuộn dây thép, kẽm gai, thuốc lá để nhai, bó nhang rời và tượng Phật Di Lặc, nến, bút dầu, Cờ Hoa Kỳ, đồ cắt móng tay, truyền đơn Psy Op, mũ mềm (như mũ hướng đạo), cái rìu, và còn nhiều thứ. Mỗi tuần hai lần, khi máy bay trực thăng tiếp tế đến, họ mang thức ăn tươi nóng trong những cái thùng nhựa hai lớp màu xanh lá cây (mermite cans). Họ mang những thùng nhựa chứa chừng 8 lít nước. Mitchell mang một bộ đồ trận rằn ri như da cọp để dành cho những buổi đặc biệt. Henry Dobbins mang thuốc trừ sâu bọ Black Flag. Dave Jensen mang những cái bao không để có thể nếu cần thì ban đêm đổ cát vào để tăng cường chuyện bảo vệ. Lee Strunk mang kem chống nắng. Có nhiều thứ họ chung nhau mang. Thay phiên nhau họ mang cái máy PRC-77 thật to để phá tín hiệu, cái này cân nặng 13.5 kg với bình điện của nó. Họ mang chung kỷ niệm ký ức. Họ gánh vác cái mà người khác không mang nổi nữa. Rất thường xuyên họ khiêng nhau, những người bị thương và những kẻ yếu sức. Họ mang những vết thương bị nhiễm độc và bệnh tật. Họ mang bộ cờ, bóng rổ, tự điển Việt Anh, phù hiệu của cấp bậc, huy chương đồng và Bảo Quốc Huân Chương, những cái thẻ nhựa có in điều lệ qui luật.
    Họ mang bệnh sốt rét và tiêu chảy.
    Họ mang chí, ghẻ chốc, đĩa, rong và nhiều loại rau rễ rữa thối mốc meo.
    Họ mang mặt đất-Việt Nam, nơi chốn, đất đai- một thứ bụi khô màu cam đỏ bám đầy giày bốt, quần áo, và mặt mày.
    Họ mang bầu trời.
    Cả không trung khí quyển, họ mang nó, hơi ẩm, mưa dầm, mùi thối của nấm và những thứ rữa nát, tất cả những thứ ấy, và trọng lực.
    Họ di chuyển như những con lừa. Ban ngày họ bị bắn sẻ, ban đêm họ bị pháo kích, nhưng đó không phải là trận chiến, đó là những cuộc hành quân vô tận, hết làng này sang làng khác, không có mục đích, không có gì thắng cũng không bị thua cái gì. Họ đi hành quân chỉ để đi hành quân. Họ nối nhau đi chậm chạp, ngu ngốc, chúi đầu về phía trước để chống lại hơi nóng, không suy nghĩ, với tất cả máu xương, chịu đựng khuân những thứ đơn giản, thực hiện công việc lính tráng bằng đôi chân, ráng leo lên đồi và xuống ruộng, băng sông rồi lại leo lên và leo xuống, chỉ cố mà khuân, một bước, thêm một bước, rồi bước nữa, nhưng không có sự chọn lựa hay quyết định nào cả, không có ý thức, bởi vì bước như tự động, như phản xạ, và chiến tranh hoàn toàn chỉ là vấn đề của tư thế đi đứng và những thứ họ đeo mang, những thứ họ khuân vác là tất cả, một thứ trọng lượng trì trệ, một thứ rỗng tuếch, cái cùn mằn của mơ ước và trí thức và lương tâm và hy vọng và sự nhạy bén cảm giác của con người. Nguyên tắc của họ là đôi bàn chân của họ. Những toan tính của họ hoàn toàn thuộc về thể xác. Họ không có ý thức về chiến thuật và nhiệm vụ.
    Họ lùng xét làng mạc mà không biết cần phải tìm kiếm điều gì, không quan tâm hay tử tế gì cả, đá đổ khạp gạo, đe dọa trẻ em và người già, phá nổ đường hầm, có khi đốt phá và có khi không, xong rồi chỉnh đốn hàng ngũ và tiếp tục qua làng bên cạnh, rồi các làng khác, nơi mà chuyện lại tuần tự xảy ra như trước. Họ mang mạng sống của chính họ. Sự căng thẳng khổng lồ. Trong hơi nóng của buổi chiều, họ cởi nón sắt, và áo giáp, đi trần trụi như thế, nguy hiểm nhưng đỡ nhọc nhằn. Họ thường ném bớt mọi thứ dọc đường hành quân. Để được dễ chịu họ thường ném bỏ phần ăn, phá nổ mìn Claymore và lựu đạn, không có gì phải lo lắng than phiền bởi vì khi đêm xuống máy bay trực thăng tiếp tế sẽ mang đến cũng những thứ đó, rồi một ngày hay hai ngày sau vẫn cùng những thứ đó, dưa hấu và những thùng đạn dược và mắt kính đen và áo len
    – nguồn cung cấp thì thật là đáng kinh ngạc
    – pháo bông mừng ngày 4 tháng Bảy, trứng màu Phục sinh
    – đó là cái tủ trưng bày chiến tranh Mỹ vĩ đại
    – thành quả của khoa học, của ống khói, loài chim cannery, kho đạn dược ở Hartford, rừng Minnesota, xưởng cơ khí, những cánh đồng bao la bắp và lúa mì
    – họ mang (đủ thứ trên người và trong người họ) như những toa xe lửa chở hàng; họ mang trên lưng, vác trên vai
    –tất cả những điều mù mờ của Việt Nam, tất cả những huyền thoại có tên và vô danh, chắc chắn một điều là họ không bao giờ thiếu những thứ mà họ phải mang theo.

    chú giải :
    [PHP][1] Chinese Communist (Trung Cộng) hay súng tấn công loại 56.

    [2] Súng bắn đạn pháo chống xe tăng
    [3] Bẫy được chế tạo bằng một viên đạn nhỏ gài lên một cây đinh khi đạp lên sẽ bị nổ đứt ngón chân.
    [4] Mìn khi nổ tung lên đến ngang tầm đầu người để sức tàn phá mãnh liệt hơn.[/PHP]
    Lần sửa cuối bởi trieuthanhduy; 13-05-2010 lúc 10:26 PM
    :c8:Tổng hợpVideos+ Pictures & NewSock : http://www.vietboy.net/tags.php?tag=...+trieuthanhduy
    Link xong nhớ chém nhẹ tay !?
    Muốn [kua] Duy thì nên vào đây :
    http://www.vietboy.net/blog.php/1624...+trieuthanhduy

  2. #2
    Tham gia ngày
    Dec 2009
    Đến từ
    @Gió~~~~♥
    Bài gửi
    1.738
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post
    Năng lực viết bài
    389

    Angry Những Điều Họ Đeo Mang (phần 2)

    (Trích The Things They Carried)



    Sau khi máy bay trực thăng chở Lavender đi rồi, Thiếu úy Jimmy Cross dẫn trung đội trở lại Than Khe. Họ đốt cháy tất cả mọi thứ. Họ bắn gà và chó, họ đổ rác xuống giếng làng, và họ gọi pháo binh nã đạn vào làng và ngắm nhìn sự tàn phá, rồi họ hành quân thêm vài giờ nữa trong nắng chiều nóng hực và khi hoàng hôn xuống, khi Kiowa giải thích cái chết của Lavender, Thiếu úy Cross thấy mình run rẩy.

    Anh cố nén khóc. Với dụng cụ đào hố, nặng 2.2kg anh bắt đầu đào một cái hố trong đất.
    Anh cảm thấy nhục nhã. Anh tự ghét mình. Anh yêu Martha nhiều hơn thuộc cấp của anh, và đó là hậu quả tại sao mà Lavender chết, và đó là điều mà anh phải mang như viên đá nằm trong bao tử anh cho đến suốt cuộc chiến tranh.
    Anh chỉ có thể đào đất thôi chứ chẳng làm gì khác được. Anh dùng cái dụng cụ đào hố như là một cái rìu, chặt đứt, cả yêu thương lẫn ghét bỏ, rồi sau đó, khi trời tối hẳn, anh ngồi trong hố cá nhân và khóc. Mãi rất lâu anh cứ khóc như thế. Một phần anh thương tiếc Lavender. Một phần cho Martha, và cho chính mình, bởi vì nàng thuộc về một thế giới khác, không hoàn toàn có thật, và bởi vì nàng là một sinh viên năm thứ ba đại học Mount Sebastian ở New Jersey, nhà thơ và trinh nữ và không liên hệ vương vấn, và bởi vì anh nhận biết rằng nàng chẳng yêu anh và sẽ chẳng bao giờ yêu anh.
    Như bao xi măng, Kiowa nói thì thầm trong bóng tối. Tao thề có trời – bùm, gục xuống. Không một lời.
    Tao đã nghe câu này rồi, Norman Bowker nói.

    Thằng ấy đi đái, mày biết không? Nó còn đang kéo cái cái dây kéo lên. Bị xì nẹt lúc đang kéo quần rẹt rẹt.

    Được rồi, đủ rồi.
    Biết thế nhưng tao không thể chịu được, cái thằng chỉ mới vừa

    Tao nghe rồi, mày thật là… Bao xi măng. Sao mày không câm mồm dùm đi?

    Kiowa lắc đầu buồn bã và liếc nhìn cái hố nơi Thiếu úy ngồi nhìn đêm. Không khí đặc sệt hơi nước. Một cơn sương mù dày đặc bao trùm lên cánh đồng và cái im ắng đến trước cơn mưa.
    Sau một đỗi rất lâu Kiowa thở dài.

    Có một điều chắc chắn, hắn nói. Thiếu úy đau lòng lắm. Tao muốn nói cái chuyện ông ấy khóc – cái cách mà ông tiếp tục
    – không giả dối hay gì gì, nó là một cái đau đớn nặng nề thứ thiệt. Ông ấy thật sự quí mến thuộc cấp.

    Chắc chắn rồi. Norman Bowker nói.
    Lúc nãy mày định nói cái gì thì nói đi, ông ấy thật sự quan tâm.
    Chúng ta đều có những chuyện không vui.
    Lavender thì không.

    Không. Tao cũng đoán thế. Bowker nói. Mày làm ơn dùm tao một chút được không?
    Câm mồm?
    Đúng là một thằng In-điêng khôn ngoan. Câm mồm.

    Rùn vai, Kiowa cởi đôi giày bốt ra. Hắn muốn nói thêm, cho nhẹ người dễ ngủ, nhưng thay vào đó hắn mở quyển Tân ước và xếp nó dưới đầu như cái gối. Sương mù làm mọi vật có vẻ trống rỗng và không tình cảm. Hắn cố không nghĩ đến Ted Lavender, nhưng rồi hắn lại nghĩ, cái chết đến sao nhanh quá, không bi thảm, chỉ gục xuống chết, và sao mà khó nghĩ đến những chuyện gì khác, ngoại trừ nỗi ngạc nhiên. Nó có vẻ gì đó không đúng theo tinh thần Thiên chúa.
    Hắn ước gì hắn có thể cảm thấy buồn vô tận, hay nổi giận, nhưng hắn không có cảm xúc và không thể cấu tạo cảm xúc. Hắn chỉ vui mừng là mình còn sống. Hắn thích cái mùi quyển Tân ước phía dưới gò má hắn, mùi da và mực và giấy và keo, hay bất cứ thứ chất hóa học nào. Hắn thích nghe âm thanh của đêm. Ngay cả khi mệt mỏi, hắn vẫn cảm thấy dễ chịu, những bắp thịt đau nhức và hắn quan sát thân thể rất tinh tế, một cảm giác bềnh bồng. Nằm đấy, Kiowa thán phục là Thiếu úy Jimmy Cross biết thương tiếc.
    Hắn muốn chia sẻ nỗi buồn với Thiếu úy. Hắn muốn yêu mến đồng đội như Jimmy Cross đã yêu mến thuộc cấp. Tuy thế khi nhắm mắt lại, hắn chỉ có thể nghĩ đến cái Bùm- gục xuống, và hắn thấy dễ chịu vì được tháo đôi giày bốt ra và sương mù đang bao phủ hắn và mùi đất ẩm ướt và mùi của quyển thánh kinh và cái yên ấm dễ chịu của ban đêm.
    Sau một hồi lâu, Norman Bowker ngồi bật dậy trong bóng đêm.
    Anh ta nói. Mày muốn nói, thì nói đi. Nói. Kể cho tao nghe.
    Quên chuyện đó đi.

    Không, thằng nỡm, nói đi. Có một điều mà tao ghét nhất, đó là một thằng In-điêng im lặng.
    Thường xuyên, họ mang vẻ tự hào nghiêm túc. Thỉnh thoảng, tuy thế, có khi họ hoảng hốt, khi họ la hét và khi muốn la hét nhưng không thể la hét, khi họ vặn vẹo và rên rỉ và ôm đầu và kêu Chúa ơi và nằm xuống đất và bắn bừa và nhăn nhó và nức nở và van nài cho những tiếng nổ kia chấm dứt đi và trở nên điên cuồng và hứa những lời ngu xuẩn với chính mình và với Chúa và với mẹ và với cha, và hy vọng không bị chết. Nói cách khác, điều này xảy đến với tất cả mọi người. Sau khi ngừng bắn, họ nhấp nháy mắt rồi len lén nhìn lên. Họ rờ rẫm khắp người, cảm thấy nhục nhã, rồi nhanh chóng che dấu đi. Họ bắt buộc họ phải đứng lên. Như một diễn tiến chậm chạp, từng khung ảnh rồi từng khung ảnh, thế giới thay thế những điều hợp lý cũ – sự im lặng tuyệt đối, rồi cơn gió, rồi ánh sáng mặt trời, và giọng nói. Đó là nỗi nhọc nhằn của việc còn sống.

    Vụng về, họ tập hợp, ban đầu nhóm nhỏ, rồi thành nhóm đông, và trở lại thành quân nhân. Họ lau nước mắt. Họ kiểm soát số tử thương, phủi bụi, châm thuốc, cố gượng cười, dặng hắng cổ, khạc, và bắt đầu lau chùi vũ khí. Sau đó một hồi, một kẻ nào đó chợt lắc đầu và nói, Không dóc đâu nghe, suýt nữa là tao ị trong quần, rồi một kẻ khác cười to, điều đó có nghĩa là không tốt, đúng rồi, nhưng thằng cha ấy rõ ràng là không ị trong quần, thế thì không đến nỗi tệ, và dù có thế nào đi nữa không ai làm chuyện như thế rồi đi rêu rao cho mọi người biết.
    Họ nheo mắt nhìn vào trong ánh mặt trời dày đặc và dữ dội. Hồi lâu họ rơi vào im lặng, châm một điếu cần sa rồi theo dõi đường di chuyển của nó từ người này sang người kia, hít vào, giữ cái hèn kém ở bên trong. Toàn là thứ đáng sợ, một người trong bọn nói. Thế rồi có kẻ sẽ nhăn nhở cười hay nhướng mày và nói, Roger-dodger[1], suýt nữa tao bị khoan thêm một cái lỗ đít nữa, suýt thôi.
    Họ ngồi đứng với đủ loại tư thế. Có người mang vẻ bỏ cuộc, còn các người khác mang vẻ tự hào hay vẻ nghiêm trang cứng ngắc của lính hay khôi hài hay hung hăng anh hùng. Họ sợ chết nhưng họ sợ để người khác nhìn thấy vẻ sợ chết của họ hơn.
    Họ tìm những câu chuyện khôi hài để kể.

    Họ dùng những lời cứng rắn nhưng chứa tình cảm mềm mại dịu dàng. Thoa mỡ[2] họ sẽ nói như thế. Tiêu tùng, cháy, bị xì nẹt lúc đang kéo dây quần rẹt rẹt. Không phải họ độc ác, họ chỉ vờ đóng kịch như trên sân khấu. Họ là diễn viên. Khi có người chết, mà cái chết chầm chậm từ từ, thì cái chết này khá lạ lùng như là diễn kịch. Và bởi vì họ đã thuộc lòng câu nói trong vở kịch, cái khôi hài mỉa mai pha lẫn với bi kịch, họ gọi cái chết đó bằng những tên khác nhau như muốn bao bọc cái chết và biến nó thành một khối u để hủy diệt sự thật về cái chết. Họ đá xác chết. Họ cắt ngón tay cái. Họ càu nhàu cằn nhằn. Họ kể chuyện về những thứ thuốc an thần của Ted Lavender, anh chàng đáng thương này không cảm thấy đau đớn chút nào cả, và anh ta ra đi thanh thản nhẹ nhàng làm sao.

    Có một bài học ở đây. Mitchell Sander nói.
    Cả trung đội đang chờ máy bay đến chở xác Lavender. Cả đội chia nhau dùng ma túy của anh ta.
    Bài học này rõ ràng quá. Sander nói, và nháy một bên mắt. Phải tránh xa ma túy. Nó phá hỏng mất ngày giờ của bạn mỗi khi dùng.
    Nói nghe dễ thương lắm, Henry Dobbins nói.
    Làm hư hoại tinh thần, biết không? Nói chuyện say sưa nghiện ngập. Chẳng còn gì, chỉ có máu và não.

    Họ bắt buộc họ phải cười.
    Nó đây rồi, họ sẽ nói. Lập đi lập lại mãi – Nó đây rồi, bạn ta ơi, nó đây rồi – như thể sự lập lại là một hành động đàng hoàng chững chạc, một cân bằng giữa cái điên và cái suýt điên, biết mà chẳng làm được gì, nó đây rồi, điều này có nghĩa là hãy bình tĩnh, để cho nó đi, bởi vì, ừ hứ, bạn ạ, bạn không thể thay đổi những gì không thể thay đổi, nó đây rồi, nó thật sự và chắc chắn và chó má đây rồi.
    Họ dữ dằn.

    Họ mang tất cả những hành trang tình cảm của những người biết có thể một lúc nào đó mình sẽ chết. Tiếc nuối, sợ hãi, yêu thương, nhớ nhung – đó là những điều không cụ thể, nhưng những điều không cụ thể cũng có thể chất, trọng lực riêng, chúng có sức nặng cụ thể.
    Họ mang trong lòng ký ức những điều nhục nhã. Họ mang chung nỗi hèn nhát thầm kín chỉ được kềm giữ sơ sài, cái bản năng bỏ chạy hoặc chết đứng hoặc ẩn trốn, trên nhiều khía cạnh đây là một gánh nặng lớn nhất của tất cả mọi người, bởi vì người ta không thể nào đặt nó xuống, nó đòi hỏi sự cân bằng tuyệt hảo và tư thế toàn hảo. Họ mang tiếng tăm của họ. Họ mang nỗi lo sợ lớn nhất của một quân nhân đó là sợ bị đỏ mặt vì thẹn thùng. Người ta giết chóc, và bị giết chết bởi vì người ta hỗ thẹn nếu không làm chuyện giết chóc.

    Đó là những điều đầu tiên đã mang họ đến với chiến tranh, chẳng có gì tốt đẹp cả, không có những mơ ước vinh quang hay danh dự, chỉ để lãng tránh nỗi hổ thẹn bị mất danh dự. Họ chết, để không phải bị chết vì hổ thẹn. Họ bò vào trong đường hầm và giữ những vị trí lộ liễu sơ hở nhất và tiến công dưới lằn đạn. Mỗi sáng, mặc dù có bao nhiêu điều không thể lường trước, họ vẫn bắt buộc chân họ phải bước. Họ chịu đựng. Họ tiếp tục khuân. Họ không chịu thua hay chấp nhận những phương tiện có ngay trước mắt, chỉ cần nhắm mắt và ngã xuống. Rất dễ dàng, thật thế. Duỗi người rồi nhào xuống đất để cho bắp thịt dãn ra và không nói không rằng cũng không cử động cho đến khi đồng đội đỡ bạn lên và đưa bạn lên trực thăng; và nó, cái trực thăng, sẽ rồ máy chúi mũi xuống rồi bay lên và đưa bạn lìa xa thế giới. Chỉ cần một cái ngã thôi, thế mà không ai ngã cả.
    Đó không phải là gan dạ, thật ra; mục đích của họ không phải là thể hiện lòng can đảm. Nói một cách thật chính xác, họ quá sợ hãi để có thể hèn nhát.
    Nói chung, họ mang những thứ này trong lòng, bên ngoài họ đeo lớp mặt nạ thản nhiên. Họ dè bĩu những người báo cáo bị bệnh. Họ mỉa mai những kẻ đã được thả về bằng cách tự bắn vào ngón chân hay ngón tay. Đồ đàn bà, họ chê.
    Đó là những lời nhạo báng dữ dội, chỉ loáng thoáng chút ganh tị hoặc nể nang, nhưng chuyện này cũng nhanh chóng tàn phai.
    Họ tưởng tượng nòng súng chĩa vào da thịt. Thật dễ dàng; bóp cò và bắn vỡ ngón chân cái. Họ tưởng tượng cái đau nhanh chóng và ngọt xớt, rồi được rút sang Nhật, vào nhà thương với giường ấm nệm êm và những cô y tá geisha xinh xắn.

    Họ mơ ước cánh chim tự do.
    Ban đêm, khi canh gác, nhìn vào bóng tối, họ được mang đi bằng phi cơ phản lực khổng lồ. Họ sung sướng phấn khởi khi máy bay cất cánh. Thoát rồi! Họ hét to. Rồi tiếp theo là vận tốc – cánh phi cơ và động cơ
    – cô tiếp viên hàng không mỉm cười
    – nhưng đó không chỉ là cái máy bay, đó là con chim thật, một con chim bạc sáng loáng sang trọng với lông cánh và móng vấu và tiếng kêu lảnh lót.
    Họ đang bay.
    Những gánh nặng rơi mất; chẳng còn gì để gánh chịu. Họ cười to, và đeo chặt, cảm thấy gió lạnh tạt vào mặt và chiều cao, và bay vút, nghĩ rằng Xong rồi, Ta thoát rồi
    – họ trần truồng, nhẹ nhàng và tự do
    – tất cả chỉ còn lại cái nhẹ thênh thang, sáng lạng và nhanh nhẹn và sôi nổi, sáng như ánh sáng, đầu óc lâng lâng, cái vui mừng sung sướng như sùi lên trong phổi, như họ được mang lên cao vượt qua khỏi mây trời và chiến tranh, vượt qua khỏi bổn phận, bên ngoài trọng lực và cái chết và những rối rắm của thể giới
    Sin loi! (xin lỗi) họ kêu to. Xin lỗi nhé, mấy thằng con dại, nhưng tao khùng rồi, tao đang chơi đùa, tao đang lang thang trong vũ trụ, tao thoát rồi!
    và đó là một cảm giác thảnh thơi, không vướng bận, chỉ có cưỡi lên những sợi sóng ánh sáng, rong buồm trên con chim bạc khổng lồ tự do vượt lên trên núi non và biển cả, lên trên nước Mỹ, lên trên nông trại và các thành phố đang say ngủ và những nghĩa địa và xa lộ và những cái vòng cung màu vàng của tiệm McDonald’s, đó là một chuyến bay, một cách chạy trốn, một cách rơi, rơi từ chỗ cao hơn và cao hơn, quay cuồng từ bên bìa của quả đất và vượt cao hơn mặt trời và xuyên qua một khoảng không to lớn im lặng nơi không có những gánh nặng và là nơi mà tất cả mọi vật đều không có trọng lượng
    Thoát rồi! Họ hét. Tao xin lỗi nhưng tao thoát rồi!
    – và vì thế ban đêm, không hẳn là nằm mơ, họ buông thả cho cái nhẹ tênh, họ được khiêng đi, họ thật sự được sinh ra đời.

    Vào buổi sáng sau khi Ted Lavender qua đời, Thiếu úy Jimmy Cross nằm phục dưới đáy hố cá nhân và đốt hết những lá thư của Martha. Sau đó anh đốt hai tấm ảnh. Mưa rơi đều làm khó khăn thêm, nhưng anh dùng viên nguyên liệu nhóm lửa và hộp nhiên liệu Sterno để nhóm một ngọn lửa nhỏ, dùng thân hình của mình che ánh lửa, ngón tay nhón cầm những tấm ảnh để hơ phía trên đốm lửa nhỏ màu xanh.

    Anh nhận ra đây chỉ là một cử chỉ tượng trưng. Ngu ngốc, anh nghĩ. Ủy mị nữa, nhưng phần lớn là cái ngu ngốc.
    Lavender đã chết. Mi không thể nào đốt cháy cái tự trách mình.
    Thêm vào đó, những lá thư đó đã in sâu trong đầu anh. Và bây giờ ngay cả khi không có những tấm ảnh, Thiếu úy Cross vẫn nhìn thấy Martha chơi bóng chuyền trong cái quần soóc thể thao trắng và cái áo thun màu vàng. Anh có thể nhìn thấy nàng di động trong mưa.
    Khi đốm lửa tàn, Thiếu úy Cross trùm cái poncho qua vai và ăn sáng bằng thức ăn trong hộp.

    Trong những lá thư bị đốt cháy, Martha không bao giờ nhắc đến chiến tranh, ngoại trừ câu nói, Jimmy, cẩn thận. Nàng không vương vấn. Nàng ký cuối thư với chữ Thương, nhưng đó không phải là tình yêu, và tất cả những lời hàm chứa hay lý lẽ chẳng quan trọng chút nào. Tiết trinh không phải là chuyện chính. Anh ghét nàng. Vâng. Anh đã. Anh đã ghét nàng. Và cũng yêu, nhưng đó là một tình yêu cứng rắn có lẫn cái ghét.

    Buổi sáng ướt át và mờ mịt. Thiếu úy Jimmy Cross lấy bản đồ ra. Anh lắc đầu thật mạnh, như để giúp đầu óc tỉnh táo, và cúi xuống bắt đầu đặt kế hoạch hành quân trong ngày. Trong mười hay hai mươi phút, anh sẽ đánh thức thuộc cấp của anh và họ phải chuẩn bị quân trang quân cụ tiến về hướng tây; nơi bản đồ cho thấy vùng đất này xanh mướt đầy mời mọc. Họ sẽ làm chuyện họ vẫn làm. Cơn mưa có thể khiến mọi vật trở nên nặng nề hơn, nhưng mặt khác sẽ có thêm một ngày mới chồng chất lên những ngày đã qua.
    Anh rất thực tế về việc này. Có một sự cứng rắn mới mẻ trong tâm hồn anh. Anh yêu nàng nhưng anh cũng ghét nàng.

    Kể từ khi ấy, mỗi khi anh nghĩ về Martha, anh sẽ nghĩ nàng thuộc về một nơi khác. Anh sẽ dập tắt những mơ mộng. Đây không phải là Mount Sebastian, mà là một thế giới hoàn toàn khác biệt, nơi đây không có những bài thơ đẹp hay những cuộc thi giữa khóa, đây là nơi người ta chết vì bất cẩn và ngu xuẩn. Kiowa nói đúng. Bùm-gục xuống, và anh chết toi chết tiệt, không bao giờ chết nửa mùa.
    Trong một thoáng, trong màn mưa, Thiếu úy Cross nhìn thấy đôi mắt xám của Martha nhìn anh đăm đắm.
    Anh hiểu.
    Rất buồn, anh nghĩ. Những điều người ta mang trong lòng. Những điều họ đã làm hoặc cảm thấy cần phải làm.
    Suýt tí nữa anh gật đầu chào nàng, nhưng đã không làm thế.
    Thay vì tiếp tục suy nghĩ, anh trở lại với cái bản đồ của anh. Anh nhất quyết sẽ thực hiện nhiệm vụ của anh một cách nghiêm túc và không sơ suất. Điều này đã quá trễ để có thể bảo toàn mạng sống của Lavender, anh biết thế, nhưng từ lúc này anh sẽ chỉ cư xử ở cương vị một người sĩ quan. Anh sẽ loại bỏ viên cuội bùa hộ mạng của anh. Nuốt nó, có lẽ, hoặc dùng cái ná của Lee Strunk, hay chỉ cần đánh rơi nó trên đường mòn. Trong cuộc hành quân anh sẽ bắt thuộc cấp thực hành nghiêm chỉnh qui luật chiến trường. Anh sẽ cẩn thận khi dàn quân bảo vệ hai bên hông, để ngăn ngừa lạc hướng, hay dồn chụm vào nhau, giữ cho trung đội của anh tiến với mức độ vừa phải ở một khoảng cách thích hợp. Anh sẽ bắt họ phải lau chùi vũ khí.
    Anh sẽ tịch thu tất cả các thứ thuốc an thần ma túy của Lavender. Chút nữa trong ngày, có lẽ, anh sẽ tập họp trung đội và sẽ nói với họ một cách rất đơn giản. Anh sẽ nhận cái chết của Lavender là do lỗi của anh. Anh sẽ có chí khí đàn ông khi nhận lỗi. Anh sẽ nhìn thẳng vào mắt họ, giữ cái cằm quân bình, anh sẽ đọc bản mới của nguyên tắc hoạt động bằng một giọng bình tĩnh, không để lộ xung đột tư tưởng qua giọng nói, giọng nói của anh là giọng nói của một Thiếu úy, không chừa chỗ cho cãi lệnh hay thảo luận. Bắt đầu ngay bây giờ, anh sẽ bảo họ, họ sẽ không được bỏ dụng cụ dọc đường hành quân. Họ phải tự kiểm tra hành động của họ. Họ phải đàng hoàng, gọn ghẽ, sạch sẽ và sẵn sàng để được sử dụng.
    Anh sẽ không bỏ qua những sự cẩu thả. Anh sẽ chứng tỏ bản lĩnh, không gần gũi với thuộc cấp.

    Giữa bọn họ với nhau, họ sẽ than thở càu nhàu, dĩ nhiên, và có thể còn tệ hơn thế, bởi vì ngày của họ dường như dài hơn, những thứ họ đeo mang trở nên nặng nề hơn, nhưng Thiếu úy Cross tự nhắc nhở mình, nhiệm vụ của anh không phải để được yêu thương mà lãnh đạo. Anh sẽ ra lệnh bằng sự thương mến; nhưng chuyện ấy bây giờ không phải là một yếu tố chính. Và nếu có người nào cãi vã hay cự nự, anh sẽ mím môi, ưỡn vai với tư thế chỉ huy. Anh có thể sẽ khẽ gật đầu. Có thể không. Anh có thể nhún vai và bảo, Tiếp tục, rồi họ sẽ sắp xếp và xếp hàng một rồi đi về hướng các làng ở phía Tây của Than Khe.

    chú giải :
    [PHP]
    [1] Ngôn ngữ trong quân đội. Roger là chữ dùng để xác nhận mệnh lệnh hay tin tức nghe qua máy truyền tin. Dodger là tiếng đệm. Tuy nhiên nguyên câu Roger-Dodger, you old codger có một giai thoại khác đi kèm.
    [2] Tiếng lóng có nghĩa là bắn chết[/PHP]
    :c8:Tổng hợpVideos+ Pictures & NewSock : http://www.vietboy.net/tags.php?tag=...+trieuthanhduy
    Link xong nhớ chém nhẹ tay !?
    Muốn [kua] Duy thì nên vào đây :
    http://www.vietboy.net/blog.php/1624...+trieuthanhduy

  3. #3
    Tham gia ngày
    Aug 2009
    Tuổi
    17
    Bài gửi
    498
    Thanks
    0
    Thanked 10 Times in 8 Posts
    Năng lực viết bài
    351

    Mặc định Re: Những Điều Họ Đeo Mang (phần 1)

    @ Lần sau bạn Duy nên gộp nhưng topic có cùng nội dung lại với nhau ........
    Là một con người cực kỳ kiêu hãnh. Vô cùng nhạy cảm, dễ bị quyến rũ bởi những thứ có mùi vị xấu xa. Đang tìm một người để yêu và được yêu

+ Viết bài mới

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Tags for this Thread

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình
  •