+ Viết bài mới
Trang 1/2 12 CuốiCuối
Hiện kết quả từ 1 tới 10 của 13
  1. #1
    Tham gia ngày
    Dec 2009
    Đến từ
    @Gió~~~~♥
    Bài gửi
    1.738
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post
    Năng lực viết bài
    389

    Angry Topic của chiến tranh VIỆT NAM !Sock từ những tấm hình

    Với thế hệ trẻ ngày nay , cuộc sống thanh bình luôn luôn là niêm hạnh phúc .
    Nhưng để đánh đổi sinh mạng để có được nền Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc như ngày nay ,thì ông cha ta đã phải hy sinh biết bao xương máu !
    Duy tôi mong rằng topic này sẽ gợi lên những ký ức ấy, không chỉ để tôn vinh cha ông , mà còn củng cố thêm kiến thức lịch sử cho mọi người !Có gì anh, em cùng nhau chia sẽ
    Thân !


    Ngày 30/4, xe tăng của quân đội nhân dân Việt Nam tiến vào dinh Độc Lập tại thành phố Sài Gòn, đặt dấu chấm hết cho sự tồn tại của chế độ cũ. Ảnh: AP.


    Hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để phản đối chính quyền Ngô Đình Diệm trấn áp đạo Phật vào ngày 11/6/1963. Ảnh: Malcolm Browne.


    Một lính ngụy dùng dao đe dọa một nông dân miền Nam vào ngày 19/1/1964 do người nông dân không chịu cung cấp thông tin về nơi ẩn náu của lực lượng du kích. Ảnh: AP.


    Một nông dân miền nam Việt Nam ôm xác con và ngước nhìn những binh lính ngụy trên một chiếc xe bọc thép. Cảnh tượng này diễn ra tại một nơi gần biên giới Việt Nam-Campuchia vào ngày 19/3/1964. Ảnh: AP.


    Những chiếc trực thăng xả súng máy vào rừng cây để dọn đường cho hoạt động càn quét của binh lính vào một căn cứ của quân giải phóng ở một nơi cách Tây Ninh gần 30 km. Cuộc càn quét diễn ra vào tháng 3/1965. Ảnh: AP.


    Máy bay Mỹ rải chất độc da cam xuống một khu vực ở miền nam Việt Nam vào ngày 17/6/1966. Ảnh: AP.


    Lính Mỹ đốt nhà trong một trại huấn luyện của bộ đội sau một cuộc tấn công cách Sài Gòn 80 km về phía tây bắc vào ngày 15/11/1965. Ảnh: AP.


    Sự ngơ ngác và sợ hãi hiện rõ trong đôi mắt hai đứa trẻ của một gia đình tại miền nam Việt Nam trong lúc bố, mẹ và hai đứa lớn hơn bị bịt mắt để chờ lính ngụy thẩm vấn vào ngày 12/9/1966. Gia đình này bị bắt sau một cuộc càn quét của lính Mỹ ở một nơi cách Sài Gòn khoảng 72 km. Ảnh: AP.


    Lính dù Mỹ vượt sông dưới mưa trong một cuộc hành quân ở huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương vào ngày 25/9/1965. Ảnh: AP.


    Một lính Mỹ vác một du kích bị thương sau một cuộc đột kích vào bệnh viện dã chiến trong rừng của quân giải phóng vào ngày 3/11/1965. Ảnh: AP.
    :c8:Tổng hợpVideos+ Pictures & NewSock : http://www.vietboy.net/tags.php?tag=...+trieuthanhduy
    Link xong nhớ chém nhẹ tay !?
    Muốn [kua] Duy thì nên vào đây :
    http://www.vietboy.net/blog.php/1624...+trieuthanhduy

  2. #2
    Tham gia ngày
    Dec 2009
    Đến từ
    Biển, cát và hơi nóng
    Bài gửi
    1.511
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts
    Năng lực viết bài
    371

    Mặc định Re: Topic của chiến tranh VIỆT NAM !Sock từ những tấm hình

    ớn thiệt ! gặp tui là tui đi theo mấy anh Mỹ luôn oy !
    hjhj ! họ anh hùng thiệt !
    yêu tinh hội
    một thời vang bóng


  3. #3
    Tham gia ngày
    Dec 2009
    Đến từ
    @Gió~~~~♥
    Bài gửi
    1.738
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post
    Năng lực viết bài
    389

    Mặc định Re: Topic của chiến tranh VIỆT NAM !Sock từ những tấm hình


    Hàng chục chiếc trực thăng Mỹ bay tới một khu vực cách Sài Gòn khoảng 80 km về phía đông bắc để yểm trợ bộ binh vào năm 1966. Ảnh: AP.


    Phụ nữ và trẻ em ẩn nấp dưới một con mương để tránh đạn trong một cuộc chiến cách Sài Gòn khoảng 30 km về phía tây vào ngày 1/1/1966. Ảnh: AP.


    Bác sĩ quân y Thomas Cole nhìn lên bằng một mắt trong lúc băng bó vết thương cho một lính Mỹ trong một cuộc chiến ở Tây Nguyên vào tháng 1/1966. Ảnh: AP.


    Lính thủy đánh bộ Mỹ chui ra khỏi hầm vào lúc bình minh ngày 21/9/1966 sau ba ngày đêm đọ súng với sư đoàn 324B của quân đội Bắc Việt Nam. Ảnh: AP.


    Người phụ nữ than khóc bên thi thể người chồng vào một ngày trong tháng 4/1969. Thi thể của chồng cô cùng 47 xác chết khác được tìm thấy trong một ngôi mộ tập thể gần Huế. Ảnh: AP.


    Trực thăng lấy xác một lính dù Mỹ trong rừng gần biên giới Việt Nam-Campuchia vào năm 1966. Ảnh: AP.


    Một lính Mỹ trườn trên ruộng lúa để tránh hỏa lực của bộ đội trong một cuộc chiến vào năm 1966. Ảnh: AP.


    Nữ du kích Việt Nam bắt sống một phi công Mỹ sau khi máy bay của người này bị bắn hạ gần Hà Nội vào ngày 5/10/1967. Ảnh: AP.


    Một phụ nữ và ba đứa con trên tàu đổ bộ của Mỹ vào ngày 29/4/1975. Những chiếc trực thăng kéo tàu ra khỏi thành phố Sài Gòn. Ảnh: AP.


    Người dân Sài Gòn chào đón bộ đội giải phóng sau khi chiến dịch Hồ Chí Minh giành thắng lợi hoàn toàn vào ngày 30/4/1975. Ảnh: AFP.
    :c8:Tổng hợpVideos+ Pictures & NewSock : http://www.vietboy.net/tags.php?tag=...+trieuthanhduy
    Link xong nhớ chém nhẹ tay !?
    Muốn [kua] Duy thì nên vào đây :
    http://www.vietboy.net/blog.php/1624...+trieuthanhduy

  4. #4
    Tham gia ngày
    Nov 2009
    Bài gửi
    29
    Thanks
    0
    Thanked 2 Times in 1 Post
    Năng lực viết bài
    0

    Mặc định Re: Topic của chiến tranh VIỆT NAM !Sock từ những tấm hình

    hình ảnh đẹp.......dân tộc Việt nam anh hùng quá ^^ ngưỡng mộ thật

  5. #5
    Tham gia ngày
    Dec 2009
    Đến từ
    @Gió~~~~♥
    Bài gửi
    1.738
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post
    Năng lực viết bài
    389

    Angry Bức ảnh trần truồng thay đổi cái nhìn về chiến tranh

    Bức ảnh chụp cô bé Kim Phúc trần truồng chạy trốn bom napalm Mỹ - một trong những bức ảnh báo chí xuất sắc nhất thế giới qua mọi thời đại của tạp chí LIFE - là tác phẩm ảnh báo chí thời sự tiêu biểu nhất trong đời cầm máy của phóng viên ảnh Nick Út.

    Nick Ut chụp Phan Thị Kim Phúc lên 9 tuổi vào tháng 6 năm 1972, lúc đó một máy bay của quân đội Nam Việt Nam đã ném nhầm bom cháy napalm vào chính binh lính của mình và dân thường




    Bức ảnh do Nick Ut phóng viên của AP chụp được “đã cảnh tỉnh nước Mỹ về sự khủng khiếp của chiến tranh Việt Nam” theo lời của chủ biên tạp chí Sống.

    Thật ra những sự kiện xảy ra vào buổi trưa 8-6-1972 ở chiến trường Trảng Bàng, Tây Ninh để đưa ra công luận bức ảnh chấn động thế giới về cô bé Kim Phúc trần trụi bị phỏng bom napalm, được chứng kiến không chỉ có mình Nick Út. Những tấm ảnh chụp khác của anh cho thấy có hàng chục phóng viên và cameraman đang lia ống kính chỉ vài giây trước đó.

    Trong chuyến trở về VN nhân dịp đại lễ 30-4 năm nay, chúng tôi đã nghe Nick Út kể lại khoảnh khắc đó: “Điều quan trọng nhất trong bức ảnh này là khi tôi giơ máy ảnh lên thì tất cả mọi người đang chạy vội về phía bà ngoại Kim Phúc với đứa trẻ hấp hối, ngáp lần cuối cùng trên tay bà. Phía sau cũng có một người đàn ông ôm xác một đứa trẻ giống như thế…




    Có lẽ tất cả phim của nhiều phóng viên chiến trường đã “nướng” hết vào đó rồi. Còn tôi, khi ấy chạy vào phía trong, nghe tiếng Kim Phúc hét lên với người anh mình, tiếng thét như xé lòng: “Nóng, nóng quá anh ơi! Em khát nước, em chết!”. Sau tiếng thét khủng khiếp của cô bé nhỏ xíu ấy, tôi đã đưa máy lên và bấm”.


    Sau khi chụp xong bức ảnh này, Nick Út bỏ máy ảnh xuống lộ, lấy nước dội vết bỏng, lấy áo mưa trùm người Kim Phúc lại và đưa em vào bệnh viện cấp cứu.

    Nick Út kể tiếp: “Sau khi chụp bức ảnh, tôi đưa Kim Phúc về Bệnh viện Củ Chi, gửi Kim Phúc với lời nhắc đi nhắc lại cùng bác sĩ: “Tôi là ký giả, bằng mọi giá các anh phải cứu sống cháu bé này”.

    Lên xe, hành động đầu tiên của tôi là chắp tay lại và khấn người anh ruột của mình - phóng viên chiến trường Huỳnh Thành Mỹ - rằng: Em đã chụp được bức ảnh tàn khốc về chiến tranh. Hãy cho em cơ hội để cả thế giới biết đến nó!”.

    Tại trụ sở văn phòng Hãng AP tại Sài Gòn, nhận tám cuộn phim từ tay Nick Út là một nhân viên phòng tối người Nhật. Anh chờ đợi trong sự hồi hộp bồn chồn. Út nghe anh chàng người Nhật thảng thốt kêu lên khi đem hình ra: “Ô, cô bé này ở truồng!”. Một đồng nghiệp người Mỹ bước lại coi rồi phán: “Hình cô bé trần truồng này phải bỏ ngay, không xài được đâu!”.

    Anh rất bức xúc và gân cổ giải thích với đồng nghiệp người Mỹ rằng đó là nạn nhân bom napalm, là nạn nhân của chiến tranh... Chốc sau Horst Faas - trưởng văn phòng đại diện AP - về tới, ông gọi Nick Út vào, hỏi cặn kẽ, coi từng tấm phim rồi ra lệnh cho anh chàng thuộc cấp: “Mày phải gửi ngay tấm ảnh này về tổng hành dinh trong vòng năm phút!”.

    Horst mắt vẫn không rời bức ảnh và lầm bầm: “Gửi ngay, gửi ngay, đây là chiến tranh chứ không phải khiêu dâm!”. Chỉ một tiếng đồng hồ sau, từ New York - tổng hành dinh của Hãng tin AP - đã điện thoại sang Sài Gòn, cú điện thoại làm thay đổi cuộc đời của một phóng viên chiến trường mới toanh: “Út ơi, mày nổi tiếng trên toàn thế giới rồi!”, “Út ơi, mày là “number one” (số 1) rồi!”.


    Bức ảnh được phát đi, nước Mỹ xuống đường, báo chí Nhật Bản và nhiều nước khác phóng to bằng hình thật ngay trước tòa soạn báo của họ. Vào ngày hôm sau tại Washington, hàng mấy ngàn người xuống đường biểu tình. Chiến tranh VN do Mỹ khởi xướng đã phô bày những tội ác khủng khiếp của nó chỉ qua một tấm ảnh của Nick Út!

    Hơn 20 năm sau, Kevin Carter cũng giành Pulitzer 1994 với bức ảnh về một em bé Sudan đang lả đi vì đói dưới con mắt chầu chực của một con chim kền kền cách đó vài bước chân. Tuy nhiên, không giống như Nick Út được vinh danh với tác phẩm của mình, Pulitzer 94 chính là nguyên nhân khiến Kevin tự sát 3 tháng sau khi nhận giải thưởng. Cả hai đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một phóng viên, nhưng Nick Út trọn vẹn hơn với bổn phận một con người bình thường

    [--Auto Merged--]



    vị phật sống của tinh thần phật giáo Việt Nam

    Năm 1963, phong trào đấu tranh của Tăng Ni Phật tử chống chính sách phân biệt đối xử tôn giáo hầu như đã lên đến cao trào. Vào mùa Phật Đản năm ấy, ông Diệm lại có chỉ thị cấm treo cờ Phật giáo. Sự đàn áp và bắt bới Tăng Ni Phật tử diễn ra liên tục từ Huế vào đến Sài Gòn càng làm cho làn sóng biểu tình phản đối dấy lên mạnh mẽ hơn bao giờ. Ngày 11-6, từ tổ đình Phật Bửu Tự (đường Cao Thắng - Sài Gòn), hơn 300 Tăng Ni Phật tử đã biểu tình đi dài đến ngã tư Phan Đình Phùng - Lê Văn Duyệt (nay là Nguyễn Đình Chiểu - Cách Mạng Tháng 8).
    Tại đây Bồ tát Thích Quảng Đức (TQĐ) đã tự thiêu.




    Sau khi làm lễ 4 hướng Đông Tây Nam Bắc, Ngài ngồi kiết già, tay bắt ấn Cam Lộ, quay mặt về hướng Tây. Ngài tự đổ xăng lên khắp người và mồi lửa được bật lên.... Các Tăng Ni phong tỏa các ngả đường, cả xe cứu hỏa cũng không vào được. Ngọn lửa cứ bốc cao dần.... một vài người, trong đó có cả phóng viên nước ngoài, Peter Brown (người Mỹ) phóng viên hãng thông tấn UPI chụp được và đưa ra ngay trong năm 63 sau đó đã đoạt giải nhất ảnh báo chí thế giới




    Chiếc xe mà Bồ Tát Thích Quảng Đức đã dùng để đi tự thiêu năm xưa hiện đang được lưu giữ ở chùa Thiên Mụ ( Huế )



    Ngay sau khi Thày Quảng Đức tự thiêu, mọi người đã ngạc nhiên khi hay tin Trái tim của thày đã không bị thiêu hủy cùng ngọn lửạ Từ đó đến nay suốt thời gian ngót 37 năm qua, người Việt Nam luôn luôn bị ám ảnh bởi câu hỏi: Tại sao trái tim của ngài không bị đốt cháỷ Đây là câu hỏi không những ám ảnh những người bình thường mà còn ám ảnh đối với nhiều khoa học gia, nhiều nhà thần học cũng như các nhà nghiên cứu về những điều kỳ diệu của thế giới vô hình. Tuần qua, nhật báo Người Việt Hoa Kỳ đã đăng tải bài viết của ông Mật Nghiêm Đặng Nguyên Phả, trong đó tác giả đã trình bầy lý do vì sao trái tim của Thầy Quảng Đức vẫn còn nguyên vẹn sau khi nhục thể của Thầy bị thiêu thành tro bụi trong lửa đỏ. Mời quý độc giả theo dõi nguyên văn bài viết của tác giả đăng ở trang 3.

    Mười ba năm sau ngày Bồ Tát Quảng Đức tự thiêu, tôi được nghe một Bạn Đạo của Ngài kể lại: "Vì sao Ngài để lại Trái Tim", như một huyền thoại, như một giai thoại Thiền thời đạị Người kể là Cố Hòa Thượng Thích Thanh Long, nguyên Giám Đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo, trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trước đâỵ Thời gian là vào đầu năm 1976 và địa điểm là Trại Cải Tạo Suối Máu, Tam Hiệp, Biên Hòạ Vào thời gian trước khi bị đưa ra Bắc, tôi được giam chung với hai vị Cố Hòa Thượng Thích Thanh Long và Thích Độ Lượng là những người lãnh đạo ngành Tuyên Úy Phật Giáo trong Quân Đội Miền Nam trước 1975. Nhờ cơ hội đó, tôi đã học hỏi được rất nhiều về Phật Pháp, về đức độ và về công hạnh của Ngài Thanh Long. Cũng nhân dịp này, tôi đã đặt câu hỏi về "Trái Tim Ngài Quảng Đức" có thật không và chuyện xảy ra như thế nào?

    Hòa Thượng Thanh Long đã trừng mắt nhìn tôi rồi nói: "Đó là sự thật một trăm phần trăm, thế cậu không tin à?" - Ngài thường dùng chữ cậu để xưng hô với tôi cho thân mật theo kiểu Bắc, thay vì dùng chữ anh hay đạo hữu - Và tôi trả lời: "Không phải con không tin về chuyện trái tim có thật hay không. Điều con thắc mắc là tại sao thiêu mà trái tim không cháy".

    Hòa Thượng đã mỉm cười và ôn tồn nói: "Chính chúng tôi cũng không ngờ và chính tôi là nhân chứng về chuyện này, giờ tôi kể cho cậu nghẹ" Rồi Ngài bắt đầu thuật lại như sau:
    "Tôi không nhớ rõ thời gian bao lâu trước ngày Thày Quảng Đức tự thiêu, trong một buổi họp kín giữa những thành phần lãnh đạo cuộc đấu tranh Phật Giáo tại chùa Xá Lợi, trong đó có tôị Sau khi bàn thảo xong các việc, đến phần linh tinh thì Thày Quảng Đức giơ tay, xin ghi tên tự thiêụ Vì là chỗ thân tình, mà cũng để đùa với ông, nên tôi nói: "Này Thày ơi! Mấy vị thiền sư khi chết thường để lại xá lợi đấy nhé. Vậy Thày định để lại cái gì?" Ngay lúc đó, theo phản ứng tự nhiên ông trả lời tôi: "Để lại trái tim được không?" Tôi đáp: "Được chứ, tốt lắm, tốt lắm!" Sau buổi họp hôm đó, tôi đã gọi Taxi đưa Thày Quảng Đức về chùa Quán Âm trước, rồi sau mới về chùa mình. Thời gian tiếp theo vì bận Phật sự và việc đấu tranh tôi cũng quên đi chuyện nàỵ

    Đến ngày 20 tháng 4 năm Quý Mão tức ngày 11 tháng 6 năm 1963 thì Thày Quảng Đức tự thiêu tại ngã tư Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt vào lúc 11 giờ trưạ Khi đó tôi đang ở chùa Xá Lợi họp. Lúc đó tình hình rất căng, vì nằm trong thành phần lãnh đạo nên tôi ở luôn tại chùa Xá Lợi để được bảo vệ chứ không về chùa nữạ Nhục thân Thày Quảng Đức được mang về chùa Xá Lợi nên các Phật tử thường xuyên đến viếng, ngày đêm hàng ngàn ngườị Mãi năm ngày sau mới đem xuống thiêu tại An Dưỡng Địa Phú Lâm.

    Vào chiều ngày 16-6-63, một thày trẻ phụ trách việc thiêu đã chạy về chùa Xá Lợi bạch rằng đã thiêu xong, nhưng không hiểu sao trái tim chưa bị rã, tôi và các vị lãnh đạo cho lệnh tiếp tục thiêu thêm 6 giờ nữạ Sáng ngày hôm sau, cũng thày trẻ trên đã về chùa Xá Lợi tay cầm trái tim mầu nâu cứng với nước mắt đầm đìa, nói rằng đã thiêu thêm lò điện không chỉ 6 giờ mà đến 10 tiếng đồng hồ nhưng trái tim vẫn còn, nên đành chịu mà phải mang về trình lên Hội Đồng Viện. Lúc đó tôi nghĩ ra (`ng trái tim thuộc loại cơ nhục nên có lẽ không cháy, thôi thì để thờ. Bốn ngày sau, một Thượng Tọa bên Nguyên Thủy viên tịch cũng đem thiêu thì cốt thành tro hết, lúc đó tôi mới suy nghĩ và nhớ lại câu nói đùa của tôi và lời hứa của Thày Quảng Đức trong ngày ghi tên xin được tự thiêụ Và tôi tự giải thích rằng: Trong khi Thày Quảng Đức ngồi thiền để tự thiêu thì Thày đã dùng lửa Tam Muội là một thứ nội hỏa đốt đi trái tim của mình, khiến trái tim đã hóa thạch mà lửa thường không thể đốt nổị Lửa Tam Muội đã khiến trái tim Thày Quảng Đức thành Kim Cang bất hoạị"



    Trái tim bất diệt của Bồ Tát Thích Quảng Đức

    Trên đây là tất cả những lời Hòa Thượng Thanh Long đã kể lại cho tôi nghe 24 năm về trước, tính đến hôm naỵ Nếu kể từ ngày Ngài Quảng Đức tự thiêu thì đến giờ đã 37 năm rồị Hôm nay, nhân sa ('p đến ngày kỷ niệm xả bỏ nhục thân của Ngài, tôi viết những dòng này để cúng dường Ngài và Cố Hòa Thượng Thích Thanh Long, người bạn của Ngàị Nhân dịp này tôi cũng xin nhắc lại về Ngài Quảng Đức.

    Ngài có tục danh là Lâm Văn Tuất, sinh năm 1897 tại làng Hội Ninh, quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòạ Thuở bé Ngài khó nuôi nên cha mẹ cho người cậu ruột làm con, đổi tên là Nguyễn Văn Khiết. Năm 7 tuổi gia đình cho Ngài xuất gia học đạo với Hòa Thượng Thích Hoằng Thâm. Năm 15 tuổi thọ Sa Di và 20 tuổi thọ Tỳ Kheọ Sau khi thọ giới Ngài bắt đầu tu năm na (m khổ hạnh tại núi Ninh Hòa rồi Ngài hành hạnh đầu đà, một y một bát du hóa khắp nơi, mãi sau mới về an trú tại chùa Thiên Ân thị trấn Ninh Hòạ

    Năm 1932 khi Ngài được 35 tuổi đời và 28 tuổi Đạo thì Chi Hội Ninh Hòa của Hội An Nam Phật Học mời Ngài làm Chứng Minh Đạo Sự Từ đó Ngài đi hành hóa khắp các tỉnh Miền Nam Trung Việt, đã góp công kiến tạo và trùng tu được 14 ngôi chùa rải rác khắp miền. Năm 1943, Ngài rời miền Trung, vào Nam hành hóa tại các tỉnh Sài Gòn, Gia Định, Bà Rịa, Long Khánh, Định Tường và Hà Tiên. Trong thời gian này Ngài có lên Nam Vang thuộc Cambodia hành đạo ba na (m và nghiên cứu, học hỏi về kinh điển Palị Năm 1953, Ngài được Giáo Hội Tăng Già Nam Việt mời làm Trưởng Ban Nghi Lễ và Hội Phật Học Nam Việt mời Ngài làm trú trì chùa Phước Hòa, trụ sở của Hội tại Sài Gòn. Trong thời gian này Ngài đã góp công trùng tu và tạo lập được 17 ngôi chùạ Ngôi chùa mà Ngài thường trú lâu nhất là chùa Long Vĩnh tại quận Phú Nhuận, Gia Định, cho nên Phật tử Miền Nam thường gọi Ngài là Hòa Thượng Long Vĩnh. Chùa cuối cùng mà Ngài trú trì trước khi tự thiêu là chùa Quán Thế Âm, số 68 đường Nguyễn Huệ, quận Phú Nhuận, tỉnh Gia Đi.nh. Đường Nguyễn Huệ nay đổi là đường Thích Quảng Đức.
    :c8:Tổng hợpVideos+ Pictures & NewSock : http://www.vietboy.net/tags.php?tag=...+trieuthanhduy
    Link xong nhớ chém nhẹ tay !?
    Muốn [kua] Duy thì nên vào đây :
    http://www.vietboy.net/blog.php/1624...+trieuthanhduy

  6. #6
    Tham gia ngày
    Dec 2009
    Đến từ
    @Gió~~~~♥
    Bài gửi
    1.738
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post
    Năng lực viết bài
    389

    Angry Bức ảnh thay nghìn lời nói về chiến tranh tại Việt nam

    Eddie Adams (1933-2004) đã chụp hình cho một số chính trị gia và các sự kiện nổi tiếng thế giới trong suốt một cuộc đời sự nghiệp dài và đầy vinh quang của mình.

    Nhưng có một bức ảnh đặc biệt đeo đuổi ông cho đến cuối đời và cũng vì nó mà ông trở thành nổi tiếng nhất.

    Đó là bức ảnh nổi tiếng chụp cảnh một tướng của quân đội Miền Nam hành quyết một người bị tình nghi là chiến binh Việt Cộng ở trên một đường phố Sài gòn vào ngày 1 tháng 2 năm 1968. Theo lời của tướng Nguyễn Ngọc Loan nói “Chúng nó đã giết hại nhiều đồng bào của tôi” và vị tướng này đã giơ súng lục bắn thẳng vào đầu anh ta. Bức ảnh của Adams cho thấy thời điểm viên đạn đang ghim vào đầu của nạn nhân.



    Câu chuyện của tấm ảnh (trích Phóng sự của Tom Buckley đăng trên Harper Magazine, tháng 4-1972) Buổi chiều ngày 1-2 có 1 cuộc đụng độ nhỏ ở vùng lân cận chùa Ấn Quang, cơ quan chỉ huy của phe “chiến đấu” trong giáo hội Phật giáo. Trong lúc trận đánh đang tiếp diễn, 1 tù binh được mang đến chỗ Loan, lúc đó đang đứng với những phụ ta có lẽ cách đó nửa dãy phố. Không nói 1 lời, Loan quăng điếu thuốc và móc khẩu súng lục ra. Ông ta lấy tư thế của 1 xạ thủ, cánh tay phải giơ thẳng và, ở khoảng cách có lẽ 1 mét, bắn vào thái dương của người tù này.

    Trong cơn thịnh nộ, Loan đã xem thường sự kiện là Eddie Adams, 1 nhà nhiếp ảnh của hãng Associated Press, và 1 nhóm phóng viên quay phim của hãng NBC đang ghi hình ông ta. Ông ta nhìn họ sau khi bắn và có vẻ chắc chắn rằng ông ta sẽ ra lệnh tịch thu phim của họ, nhưng không biết tại sao ông ta không làm điều đó. Trong vòng vài giờ những bức hình của Adams đã được truyền đi khắp thế giới. Đêm hôm sau cuộn phim được chiếu trên chương trình tin tức truyền hình Huntley – Brinkley.



    Hai phút tin tức trôi qua, trận đánh đã tàn lụi, nhưng hình ảnh vẫn còn. Loan, mang giày ống, mặc áo giap chống đạn, là biểu tượng của sự dã man không thể cải biến. Người tù, nhỏ hơn, ốm yêu, không nhìn thấy 2 tay vì bị trói ra sau lưng, chỉ mặc 1 chiếc áo sơ mi rách nát và quần đùi. Khuôn mặt anh ta bị mép mó, bị đẩy sang 1 bên bởi tác động của viên đạn trong đầu, tóc anh ta dựng đứng, miệng hà ra như đang phát ra tiếng kêu cuối cùng.

    Theo tôi đó là bước ngoặt, giây phút khi mà công chúng Mỹ xoay qua chống lại chiến tranh. Cuộc tấn công Tết Mậu Thân đã phá huỷ niềm tin vào sự đánh giá của những người đang chỉ đạo cuộc chiến; hành động giết người của Loan đã đánh dấu sự phá sản về đạo đức của nó. Cùng lúc đó dậy lên sự ngưỡng mộ miễn cưỡng đối với sự can đảm của 1 kẻ thù đã chiến đấu rất lâu mà không có đến 1 chiếc máy bay, trực thăng, xe tăng, hay đại bác chống lại 1 quốc gia hùng mạnh nhất thế giới, và những đội quân đánh thuê được tuyển từ khắp châu Á.

    Có 1 sự trớ trêu tế nhị trong tất cả chuyện này. Người tù đã được xác định, hầu như chính xác, là chỉ huy 1 đơn vị đặc công Việt Cộng. Người ta nói anh ta có 1 khẩu súng lục trong người khi bị bắt giữ và đã dùng nó để bắn chết 1 tay cảnh sát. Không giống như những đơn vị chủ lực lớn ùa vào Sài Gòn, mặc quân phục ka ki, và những đặc công đã xâm nhập đại sứ quán Mỹ, những người đeo băng đỏ, người tù này không có nhận dạng giống vậy. Sự kết liễu cho anh ta có lẽ là nhẹ nhõm hơn, vì anh ta đã thoát được sự tra tấn kinh hoàng mà hầu như chắc chắn sẽ là phần mở đầu cho cái chết trong cảnh lao tù.

    Vụ giết nguời này gây sốc cho cả nước Mỹ.



    Cuộc gặp gỡ lại một tháng sau vụ giết người

    Loan hớp 1 hơi rượu pha sô đa được người lính pha sẵn cho ông ta. Những thứ này được giữ trong 1 quầy rượu di động gắn phía sau xe Jeep. Nghĩ rằng ông ta đang trong tâm trạng dễ chịu, tôi yêu cầu ông ta giải thích lý do bắn người tù ấy. “Tôi không phải là nhà chính trị, tôi không phải là chỉ huy cảnh sát. Tôi chỉ là 1 người lính… Chúng tôi biết người đàn ông này là ai. Tên anh ta là Nguyễn Tất Đạt, bí danh Hàn Sơn. Anh ta chỉ huy 1 đơn vị đặc công. Anh ta đã giết 1 cảnh sát. Anh ta đã nhổ vào mặt người bắt giữ anh ta. Anh muốn chúng tôi làm gì? Nhốt anh ta trong tù 2-3 năm rồi sau đó thả anh ta về với kẻ thù à?”.

    Tướng Loan sau này

    Loan được gửi sang Úc để chữa trị, nhưng bức ảnh và những bộ phim truyền hình về vụ bắn tù binh đó đã khiến ông ta mang tai tiếng. Ông ta có vẻ là mẫu người tiêu biểu của tất cả cái xấu xa và hèn nhát trong cuộc chiến nói chung và của lực lượng Nam VN nói riêng, và sự phản đối của công chúng đã buộc ông ta phải ra đi. Ông ta được đưa đến bệnh viện Walter Reed Army ở Washington. Cái chân được cưa, nhưng nó không hơn 1 cây sậy. Một thời gian lâu sau khi ông hồi phục, trong khi Thiệu đã củng cố xong quyền lực của mình, Loan và gia đình ông ta sống trong cảnh lưu vong thực sự, trong 1 ngôi nhà ở Virgina, bị CIA giám sát chặt chẽ. Khi cuối cùng ông ta được cho phép trở lại Sài Gòn, thì chỉ để nhận 1 nhiệm vụ vô nghĩa và 1 văn phòng trống không.


    Bà Nguyễn Thị Lốp, 56 tuổi, quả phụ Nguyễn Văn Lém (Ảnh chụp năm 1988)

    Sau này, Thiếu Tướng Loan cùng vợ di tản qua sinh sống tại Hoa Kỳ, mở một quán ăn nhỏ và sống một cuộc sống nghèo khó với chiếc chân tàn tật vì chiến cuộc Mậu Thân. Quán tên là LES TROIS CONTINENTS ở thành phố Springfield, tiểu bang Virginia. Ở đó, ông và gia đình bị người Mỹ sĩ nhục và làm khó khăn rất nhiều. Nhiều người Mỹ hung hăng đã xịt sơn lên tường nhà ông : "Ta đã biết ngươi là ai rồi !".




    Các vũ khí trong chiến tranh Việt Nam [Quân đội USA ]

    M-16A1, 5.56mm Assault Rifle



    This is the weapon most commonly associated with US troops in Vietnam. Despite early problems with the weapon it has now become a respected assault weapon. The 5.56mm M16A1 is a gas operated magazine-fed rifle capable of semi-automatic and automatic fire with an effective range of 300 meters and a practical rate of fire of 60 rpm.

    Đây là loại súng thường được sử dụng cho lính Mỹ tại VN. Mặc dù có những trục trặc nhỏ nhưng nó đã trở thành một loại được ưa sử dụng để đột kích. Khẩu M16A1 với đạn 5.56 ly được vận hành bằng hơi nén với khả năng tự động và bán tự động trong tầm bắn 300 mét và độ nhạy là 60 vòng một phút. (chuyên môn quá, dịch không sát)

    CAR-15, 5.56mm Assault Rifle



    The XM-177E2, commonly known as the Colt Commando. This is a shortened version of the M-16 with a telescoping stock. The CAR-15 was very popular with special ops troops but saw only limited use with line units.

    Khẩu XM-177E2 thường được biết với tên Colt Commando. Đây là phiên bản thu nhỏ của M-16 với khe gắn ống nhòm. CAR-15 rất thông dụng cho lính càng quét (Thủy quân lục chiến) nhưng lại chỉ được sử dụng có giới hạn trong lính phòng tuyến.

    BROWNING .50 Cal Machine Gun


    Chuyên dùng bắn tỉa, lô cốt phòng ngự và châu mai

    M-60, 7.62mm GPMG

    The 7.62mm M60 general purpose machine-gun (GPMG) was employed in a light role on it's bipod (effective range 500 meters) or in a medium role on a tripod (effective range 1,100 meters) as well as being used as protective armament on vehicles and helicopters. Gas operated, air cooled and belt fed, with a quick-change barrel to counter overheating during sustained firing, it has a practical rate of fire of 200 rpm (550 rpm max). In Vietnam it was the main firepower of the infantry rifle section. With bipod the M60 weighs 10.5 kg (23 pounds), which increases by 6.8kg (15 pounds) if a tripod is added (Total 38 pounds minus ammo).

    Khẩu 7 ly 62 M60 là loại súng máy tầm gần được vận hành trên giá hai chân của nó, và có tầm hoạt động 500 mét hoặc với tầm xa là 1100 mét trên đế ba chân. Dùng để phòng thủ trên các xe cơ giới và trực thăng. Bắn bằng hơi và thoát nhiệt bằng không khí. Có chế độ thay băng đạn nhanh trong khi bắn. Độ nhậy 200 vòng một phút (tối đa đạt 500 vòng). Tại Việt Nam, nó là hỏa lực chính của bộ binh. Cộng với đế 2 chân, M60 nặng 10.5 Kg, và thêm 6.8 kg nếu có thêm đế 3 chân. Tổng cộng là 38 lbs không kể đạn.
    BROWNING .30 Cal Machine Gun

    M-72, 66mm Light Anti-tank Weapon (LAW)

    Weighing 2.37-kg (5.2 pounds) complete, the LAW was designed as a discardable one-man rocket launcher primarily for use as an anti-tank weapon. In Vietnam however, the LAW was used almost exclusively as a bunker buster or for attacking entrenched enemies. When carried, the smooth-bore launcher tube was carried closed, and was watertight. In action, the end covers were opened by removing safety pins and the inner tube was telescoped outwards. This cocked the firing mechanism. Held over the shoulder, aimed by the simple sights, the weapon was fired by pressing the trigger button. The LAW Fired a 1-kg rocket to a maximum effective range of 300m. The rocket motor was fully burnt out by the time it left the launcher and resulted in a large back-blast danger area behind the firer. Once fired the tube was discarded. Due to it's low weight, a number of complete assemblies could be carried in a squad with each person capable of packing at least two if necessary.

    Nặng 2.37 kg, khẩu LAW được thiết kế có thể phóng rocket (lựu) để có thể chống xe tăng. Tuy nhiên, tại Việt Nam, LAW được dùng riêng cho việc phá boongke hoặc tấn công hào địch. Khi di chuyển, vị trí phóng lựu được giữ sát thân và được làm kín không cho vô nước. Trong chiến dịch, phần bảo vệ được mở ra cẩn thận và trở thành ống ngắm. Được giữ trên vai, ngắm mục tiêu tiêu đơn giản và bấm nút cò để bắn. Rocket của LAW nặng 1 kg và phá hủy diện rộng 300 mét. Động cơ phóng lựu sẽ cháy hoàn toàn mỗi khi phóng lựu gây nên sự nguy hiểm phía sau đuôi của LAW. Mỗi lần phóng lựu là mỗi lần phải thay ống phóng lựu mới. Để giảm trọng, mỗi người trong tiểu đoàn có thể đem theo 2 ống lựu khi cần thiết

    M-20, 3.5 inch Rocket Launche

    Often referred to as the 'Super Bazooka', the M20 was developed from the earlier 2.36-inch M9A1 rocket launcher. Although used in Vietnam, the M-20 was on it's way out of service. It was however a very useful weapon when used against enemy fortifications. The M20 weighed 5.5-kg and was a simple rocket launcher, firing a hollow-charge 4-kg HEAT rocket to relatively short ranges of 1200-meters. It was operated by a two-man team and had a rate of fire of six shots per minute. When carried, the long tube was folded into two for easier handling. In action a rocket was loaded into the open breech and two wires were attached to electrical terminals. When the trigger was pulled, a small electrical current ignited the rocket motor and propelled the rocket forward, leaving a large and dangerous back-blast area to the rear of the launcher.

    Thường được ám chỉ là Siêu Ba Zô Ka, M20 được phát triển từ phiên bản sớm của súng phóng lựu M9A1. Mặc dù được dùng tại Việt Nam, M20 đã không còn sản xuất nữa. Nó là một vũ khí hữu dụng khi dùng để phá hủy công sự của địch. M20 nặng 5.5 Kg và chỉ là súng phóng lựu. Có thể nạp 4 kg Heat rocket để phá hủy tầm ngắn trong phạm vi 1200 mét. Được vận hành bởi 2 binh lính và đạt 6 lần bắn trong một phút. Khi vận chuyển, nòng dài được gấp đôi lại để dễ dàng cầm. Khi vận hành, rocket được nạp vô khóa nòng đã mở và hai dây điện để đánh lửa. Khi cò được bóp, dòng điện sẽ kích hoạt mô tơ và phóng lựu đi, để lại áp lực nguy hiểm ở phía sau nòng súng.
    M-203, 40mm Grenade Launcher

    The combination M16A1 automatic rifle and M203 (a version of the M79) grenade launcher was produced to avoid the problem of a Grenadier having to carry a grenade launcher as well as a weapon for personal protection and hence allowing him to also function as a rifleman. The 40mm grenade launcher was used to provide additional fire support for the infantry by delivering high explosive, parachute flares and canister rounds. The high explosive had a maximum range of 400 meters and a casualty radius of 5 meters.

    Là sự kết hợp giữa súng trường tự động M16A1 và súng phóng lựu M203 (phiên bản của M79), nhằm cải thiện những lỗi của Grenadier khi di chuyển và phát triển thành vũ khí cá nhân. Binh lính có thể tự bảo vệ và hành động trong chiến dịch tự do hơn. Lựu đạn 40 mm được dùng để tăng hỏa lực cho bộ binh và cộng thêm pháo sáng cùng hộp tiếp đạn. Tầm nổ của lựu đạt đến 400 mét và tầm tử thương có bán kính 5 mét

    M-79, 40mm Grenade Launcher

    Commonly known as the 'Thumper' or 'Blooper', this weapon first appeared during the Vietnam war and closely resembled a large bore, single barrel, sawn-off shotgun. The first M79 Grenade launchers were delivered to the US Army in 1961.

    Thường được gọi là Thumper/ Blooper. Xuất hiện trong suốt cuộc chiến tại Việt Nam và trông tương tự như nòng lơn, và nòng đơn, và súng cưa nòng của M79 đầu tiên được phục vụ quân đội Mỹ năm 1961.

    The M79 was designed as a close support weapon for the infantry, with two weapons being issued to each rifle squad. The tactical use of the weapon required the gunner (grenadier) to be dedicated to the weapon and only carried a pistol as a side arm. the M79 was intended to bridge the gap between the maximum throwing distance of a hand grenade, and the lowest range of supporting mortar fire - between 50 and 300 meters - and thus gave the squad an integral indirect fire weapon. With a length of 737mm (barrel = 355mm) and a loaded weight of 3kg, (6 and a half pounds) the M79 was an ideal weapon in the close terrain of Vietnam.

    M79 được thiết kế cho bộ binh, một trong hai vũ khí cá nhân trong bộ binh.Chiến binh được yêu cầu có một vũ khí chuyên dụng và một khẩu súng lục mang theo bên mình. M79 được coi là cầu nối giữa súng phóng lựu tầm xa và súng cối tầm gần (50 đến 300 mét) và do đó trở thành vũ khí không thể thiếu trong một đội binh. Với chiều dài 737 mm (nòng dài 355 mm) cộng với đạn nặng 3kg, M79 là một vũ khí chiến lược đối với địa hình của Việt Nam.

    The M79 was a single shot, shoulder fired, break-barrel weapon which fired a spherical 40mm diameter grenade loaded directly into the breech. It had a rubber pad fitted to the shoulder stock to absorb some of the shock. The M-406 40mm HE grenades fired from the M79 traveled at a muzzle velocity of 75 meters per second, and contained enough explosive within a steel casing that upon impact with the target would produce over 300 fragments at 1,524 meters per second within a lethal radius of up to 5 meters. Stabilized in flight by the spin imparted on it by the rifled barrel the grenade rotated at 3,700rpm, this in turn, after approximately 15 meters of flight, armed the grenade.

    M79 bắn từng phát một, vũ khí nòng rời với cầu lửa đường kính 40 mm được nạp trực tiếp vào khóa nòng. Có một miếng lót cao su để tì súng lên vai và giảm shock. Lựu đạn M406 40 ly HE rời khỏi nòng của M79 đi với vận tốc 75 mét một giây, và chứa lượng chất nổ trong vỏ bọc thép, khi nổ có thể văng ra hơn 300 mãnh vụn với vận tốc 1524 mét một giây, với bán kính sát thương là 5 mét. Đạn đạo bay ổn định vì lựu đạn xoay trong không trung với vận tốc 3700 vòng một phút do vòng xoáy trong nòng tạo ra.

    For close range fighting the Army came up with two types of M79 rounds. The first was a flechette round ( or Bee Hives round) which housed approx 45 small darts in a plastic casing, these rounds were issued on an experimental basis. Later this round was replaced by the M-576 buckshot round. This round contained twenty-seven 00 buckshot which on firing was carried down the barrel in a 40mm plastic sabot which slowed down in flight so that the pellets could travel in their forward direction un-aided. The M79 could also fire smoke grenades (both standard and parachute), CS gas, and flares.

    Chiến đấu tầm gần, có 2 loại M79. Loại đầu tiên là đạn hình mũi tên, được giữ 45 viên nhỏ trong hợp plastic, loại này được thực đưa ra trên thực tế thí nghiệm. Sau đó, loại đạn này được thay thế bằng đạn chì của M576 . Loại đạn này bao gồm 27 00 đạn chì nhỏ được đúc và đem theo trong hộp nhựa 40 mm, nó bay chậm hơn trong đạn đạo nhưng dễ tới đích theo mong muốn. M79 cũng là súng bắn lựu đạn khói (loại tiêu chuẩn và loại rơi chậm có dù), bắn khí CS và bắn lửa.

    The M79 had a large flip up sight situated half way down the barrel, with a basic leaf foresight fixed at the end of the barrel. The rear sight was calibrated up to 375 meters (410 yds) in 25 meter (27.3 yds) intervals. In the hands of a good experienced Grenadier the M79 was highly accurate up to 200 meters. Later in the war the M79 was superseded by the M203.

    M79 có một lá ở đầu ruồi, cho biết tầm nhìn phía sau xa đến 375 mét trong khoảng cách 25 mét. M79 là vũ khí phóng lựu cầm chính xác trong phạm vi 200 mét. Sau này, M79 được thay thế bằng M203
    M-67, 90mm Recoilless Rifle

    Measuring 1,346-mm (53-inches) in length and weighing in at a hefty 16-kg (35-lbs), the M-67 was intended for use against AFV's and bunkers as a portable crew served weapon. It was a breech-loaded, single-shot weapon which was shaped like a long tube with the sight assembly and firing mechanism offset to the side in opposite directions about half way along the barrel. The breech was hinged on the right side, and had to be swung open to load the round. It was then swung closed and when the rifle was fired, the rear end of the shell case broke up and was blown out of the back of the breech block.

    Chiều dài 1346 mm, và nặng 16 kg. M67 dùng để phá hủy AFV (???) và boongke như một thứ vũ khí di động linh hoạt trong quân đội. Đạn nạp trong khóa nòng, và bắn phát đơn. Có hình dạng ống dài với có thể tháo ráp, và phần đuôi dài khoảng nửa thân của nòng. Khóa nòng có bản lề ở bên phải và được gập lại để nạp đạn. Khi bắn, phần vỏ ở đuôi sẽ bị đẩy ra ngoài khoá nòng.

    Capable of maintaining a sustained fire rate of 1 round per minute, the weapon could be fired at an increased rate of 1 round every 6 seconds (10 rpm) by a well trained crew. However, due to excessive heating at this rate of fire, it was necessary to allow the weapon a 15-minute cooling period after each 5 rounds fired.

    Có khả năng duy trì liên tục tốc độ bắn mỗi phát một phút. Súng có thể được tăng tốc độ lên 1 phát mỗi sáu giây khi được sử dụng thuần thục. Tuy nhiên, do sức nóng quá cao nên phải làm nguội 15 phút sau mỗi 5 phát bắn.

    The maximum range of the M-67 was 400-meters (437-yds) and was sighted to 800-meters (875-yds) although the shell could actually be fired out to 2,000-meters (2,187-yds).
    Tầm phá hủy tối đa của M67 là 400 mét, và tầm ngắm rộng 800 mét mặc dù lượng khói xa 2000 mét

    Requiring a crew of three (gunner, assistant gunner and ammo bearer) the M-67 fired a 9.5-lb M371E1 HEAT round and could be shoulder fired or ground mounted.
    Yêu cầu một tổ có 3 người, một người bắn, một trợ giúp và một khuân vác đạn. M67 sử dụng loại lựu đạn 9.5 pounds và có thể sử dụng vác qua vai hoặc để trên mặt đất.

    M-1911A1, .45 Automatic Pistol

    M-14, 7.62mm Rifle


    Until the introduction of the M-16, the M-14 was the standard rifle of the US forces and saw service in Vietnam from 1957 onwards until its replacement. The M14 national Match (Accursed) was the sniper rifle variant, later renamed the M-21.
    Cho đến khi có sự ra đời của M16, M14 được coi là tiêu chuẩn cho quân đội Mỹ và được nhìn thấy phục vụ trong chiến tranh từ năm 1957 cho đến khi nó được thay thế. M14 dùng cho bắn tỉa và đổi tên thành M21

    Production of the M14 ceased in 1964 but a further variant was the M14A1 which came close to being a light machine-gun. The M14A1 had a pistol grip, a folding fore-hand grip about half-way down the forestock, a folding bipod, a shoulder strap, and a sleeve was fitted over the muzzle to act as a compensator when firing fully automatic. This helped to keep the barrel down and prevent climb.
    M14 dừng sản xuất năm 1964 nhưng có sử biến đổi thành M14A1, một loại súng máy loại nhẹ. M14A1 có báng, báng gấp và có chân đế gấp được, dây đeo, và khóa để cài chế độ tự động. Cải tiến đó giúp cho nòng súng giữ hướng xuống và không bị tuột.

    The M-14 was adopted in 1957 as the successor to the WWII M-1 Garand, and was basically an evolution of that rifle.
    M14 xuất hiện năm 1957 là người thừa kế của WWII M1 Garand và là nền tảng để phát triển các loại súng trường.

    The main and more obvious improvements were the gas system and magazines. On the M-1 the magazine was fixed and had to be loaded using a charger. On the M-14, detachable 20-round box magazines were used. The normal M-14 fired semi-automatic only. A slide-on bipod could be provided, and the rifle fitted the M-76 grenade launcher which was slipped on to the flash suppressor and secured to the bayonet lug.
    Sự chính yếu và đáng quan tâm trong sự cải tiến là hệ thống nén khí và ổ đạn. Ổ đạn của M1 phải được nạp đạn mỗi phát bắn, trong khi đó M14, có hộp tiếp đạn 20 viên. M14 loại thường chỉ bắn ở chế độ bán tự động, có thể được cài trên chân đế kèm theo. Súng có thể gắn thêm súng phóng lựu M76 hoặc bộ giảm thanh hoặc lưỡi lê

    The M-14 weighed 5.1-kg (11.22 pounds) with a full magazine and cleaning kit carried. It had a maximum effective range on semi-automatic without the M-2 bipod of 460-meters. When the bipod was added this range increased to 700-meters.
    M14 nặng 5.1 kg khi đầy đạn và dụng cụ lau chùi. Bắn không chân đế ở chế độ bán tự động, tầm bắn là 460 mét, và có chân đế là 700 mét.

    A special suppressor was fitted to the muzzle of the sniper rifle which did not affect the performance of the bullet, but reduced the velocity of the emerging gases to below that of sound. This made location very difficult as the target heard only the crack of the bullet and no shot from the rifle.
    Bộ giảm thanh của những tay bắn tỉa không ảnh hưởng đến đạn đạo nhưng giảm tốc độ của đạn. Âm thanh được giảm đán kể khi bắn có bộ phận giảm thanh.

    M-1 Carbine


    Cal .38 Special





    Lần sửa cuối bởi trieuthanhduy; 07-05-2010 lúc 12:09 PM
    :c8:Tổng hợpVideos+ Pictures & NewSock : http://www.vietboy.net/tags.php?tag=...+trieuthanhduy
    Link xong nhớ chém nhẹ tay !?
    Muốn [kua] Duy thì nên vào đây :
    http://www.vietboy.net/blog.php/1624...+trieuthanhduy

  7. #7
    Tham gia ngày
    Dec 2009
    Bài gửi
    924
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post
    Năng lực viết bài
    343

    Mặc định Re: Topic của chiến tranh VIỆT NAM !Sock từ những tấm hình

    hồi xưa anh hùng, nhưng không biết hiện giờ như thế nào nữa................................?
    Yêu thì Điên, Không yêu thì khùng
    Thà bị Khùng chứ Không chịu điên
    :212:bái bai tình yêu..............

  8. #8
    Tham gia ngày
    Oct 2009
    Tuổi
    29
    Bài gửi
    150
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts
    Năng lực viết bài
    308

    Mặc định Re: Topic của chiến tranh VIỆT NAM !Sock từ những tấm hình

    Bác sĩ quân y Thomas Cole that gợi cảm
    T - Dragon !!

  9. #9
    Tham gia ngày
    Mar 2010
    Bài gửi
    703
    Thanks
    0
    Thanked 28 Times in 28 Posts
    Năng lực viết bài
    321

    Mặc định Re: Topic của chiến tranh VIỆT NAM !Sock từ những tấm hình

    còn chụp hìh trái tim nữa
    kinh khủg wá ???

  10. #10
    Tham gia ngày
    Dec 2009
    Đến từ
    @Gió~~~~♥
    Bài gửi
    1.738
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post
    Năng lực viết bài
    389

    Mặc định Re: Topic của chiến tranh VIỆT NAM !Sock từ những tấm hình

    còn chụp hìh trái tim nữa
    chứng tích chiến tranh ..chứng tích của vị phật sống còn lại đấy !
    hồi xưa anh hùng, nhưng không biết hiện giờ như thế nào nữa
    câu này phải để dành hỏi chính bạn mới đúng ? :D
    mà nói chung thế hệ trẻ VIỆT NAM cần trả lời thì phải ?!
    P/S :sao ko ai thanks cho Duy hết vậy ...?
    kệ..ko nãn !
    :c8:Tổng hợpVideos+ Pictures & NewSock : http://www.vietboy.net/tags.php?tag=...+trieuthanhduy
    Link xong nhớ chém nhẹ tay !?
    Muốn [kua] Duy thì nên vào đây :
    http://www.vietboy.net/blog.php/1624...+trieuthanhduy

+ Viết bài mới
Trang 1/2 12 CuốiCuối

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Tags for this Thread

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình
  •