Điều gì sâu thẳm nhất trong mỗi con người? Đó là thế giới nội tâm. Thế giới bên trong của chúng ta là như thế nào? Làm sao mà chúng ta có thể miêu tả được nội tâm của chúng ta? Chúng ta định như thế nào khi chúng ta cố gắng nói về những gì đang diễn ra trong đầu óc chúng ta, bên trong tâm hồn của chúng ta? Vậy thật sự nơi nào là nơi sâu thẳm nhất ở bên trong mỗi người? Nó nằm như thế nào? Làm thế nào để chúng ta mường tượng ra được nó, vẽ lên nó, xác nhận cái không gian bên trong, cái không gian sâu thẳm và lạ lùng trong tâm hồn của chúng ta?

Họ cần gì?

Già nửa thế kỷ 20, việc vẽ bản đồ thế giới nội tâm được dành cho các nhà tâm lý học – và các nhà khoa học chính thức nghiên cứu về những đề tài cá nhân và những bài diễn thuyết về cách chữa bệnh bằng liệu pháp tâm lý hiện đại của chúng ta mang tính chất thuyết trình nhiều hơn. Các nhà tâm lý học sử dụng một mẫu thuốc để vẽ nên biểu đồ thế giới nội tâm, phân biệt khoảng nào không khỏe mạnh trong cuộc sống nội tâm của mỗi người. Đó là lý do tại sao tâm lý học lại đưa ra một phạm trù rất xấu về những lesbian (đồng tính nữ), gay (đồng tính nam) và những phản đối gay gắt tình dục đồng giới: Chúng ta giả sử rằng chính thế giới nội tâm của mỗi người đã hình thành nên một thế hệ các nhà phân tích tâm lý học và những chuyên gia tâm thần học để khắc họa tính cách của chúng ta khi không khỏe mạnh. Tuy nhiên, điều quan trọng về nội tâm trong suy nghĩ của Michel Foucault, người tạo ra một học thuyết về tình dục khi chuyển lĩnh vực nghiên cứu của các nhà tâm lý học sang nghiên cứu về tình dục và ông cũng là người đã châm biếm chua cay trong một cuộc phỏng vấn năm 1981, đó là ”toàn bộ nghệ thuật của cuộc sống bao gồm cả việc loại bỏ sạch sẽ yếu tố tâm lý.”

Tuy nhiên, điều gì sẽ xảy ra nếu tâm lý học không chỉ là công cụ để thâm nhập vào thế giới nội tâm? Thậm chí, trong suốt khoảng thời gian chiếm ưu thế trong nghiên cứu lĩnh vực này, tâm lý học và những nhà phân tích tâm lý học bị bao phủ bởi một thứ truyền thống mang tính luân phiên, bởi có lẽ không một thứ truyền thống nào đủ phù hợp để có thể tồn tại lâu dài và bền vững trong sự nghiệp viết lách của rất nhiều nhà văn là đồng tính nam. Theo nhiều cách thức khác nhau, họ - Walter Pater, Oscar Wilde, André Gide, Marcel Proust, Jean Genet, và Roland Barthes, tất cả đều cố gắng, nỗ lực để tưởng tượng và thể hiện một không gian nội tâm của con người mà không cần đến sự hỗ trợ của tâm lý học hoặc của những thứ tương tự như vậy và ngày càng có vẻ lặp lại những phạm trù, khái niệm của các nhà phân tích tâm lý học.

Nếu ở đây đã từng có bất cứ một sự nghi ngờ nào về việc những chính sách cấp bách cần phải tìm ra phương cách đưa đời sống nội tâm của nhóm đồng tính luyến ái mà không nhờ đến hoặc không cầu viện đến tâm lý học và các nhà phân tích tâm lý học, thì đó chỉ có một chút thoáng qua trong những bài thuyết trình nói về việc tại sao một số người đồng tính luyến ái nam quan hệ tình dục không an toàn mà lại không để ý điều đó.

Chủ đề về tình dục không an toàn trong giới những người đồng tính nam đã mở ra một triển vọng mới trong nghiên cứu về nội tâm của những người này và đưa đến hàng loạt các câu hỏi – từ những nhà khoa học, nhà báo, cộng đồng các nhà lãnh đạo và những nhà hoạt động – nhằm vào chủ đề: Những người đồng tính nam mong muốn điều gì; Điều gì ở bên trong đời sống tinh thần của họ?..
Gần như tất cả các câu hỏi về vấn đề này đều được đưa ra từ những suy đoán dựa trên các phân tích tâm lý học về cách nhìn nhận của người đồng tính về một đời sống tình dục không an toàn.

Không thật sự rõ ràng về việc có bao nhiêu người đồng tính sinh hoạt tình dục có nguy cơ thật sự lây nhiễm HIV hoặc bao nhiêu người trong chúng ta mang những nguy cơ tương tự như vậy hoặc chúng ta có thật sự thành công trong việc giảm thiểu tối đa những nguy cơ này đối với những người khác và với bản thân chúng ta. Thậm chí các phân tích số liệu phức tạp nhất về nguy cơ lây nhiễm từ người đồng tính lại không mang tính toàn diện. Những phân tích từ số liệu này chỉ nhìn nhận ở một khía cạnh, không mang tính đại diện hoặc thông tin chỉ ở một chiều. Tuy nhiên, bất chấp những tổn hại do quan hệ tình dục qua hậu môn không an toàn (barebacking) thì rõ ràng chỉ có thiểu số những đồng tính nam có sự tự nhận thức về bản thân, tự đẩy mình hoặc người khác vào một nguy cơ bị lây nhiễm HIV trong một thế giới hiện đại hóa như hiện nay.



HIV bạn đồng hành của những người đồng tính?

Chắc chắn rằng, thập niên cuối cùng của thế kỷ này sẽ chứng kiến một hồi chuông cảnh báo ở cả cộng đồng và cả giới khoa học về nguy cơ lây nhiễm qua đường tình dục ngày càng tăng ở những người đồng tính nam. Và một vài con số chứng tỏ sự gia tăng về tỷ lệ lây nhiễm gần đây giữa những người đàn ông có sinh hoạt tình dục đồng giới đã thật sự là một mối lo nghiêm trọng. Tuy nhiên, có vẻ như tình trạng đáng báo động trong quan hệ tình dục không sử dụng bao cao su đã bị cường điệu quá mức hoặc bị đặt không đúng chỗ. Ở một khía cạnh nào đó, những bản báo cáo ban đầu về “barebacking” thường là để ám chỉ đến việc quan hệ tình dục qua hậu môn không an toàn giữa những người đàn ông đã bị nhiễm HIV. Tất cả những nghiên cứu sau đó chỉ ra rằng, quan hệ tình dục không an toàn qua hậu môn giữa những người đàn ông đã bị nhiễm HIV trên thực tế đã phổ biến hơn so với những người chưa bị nhiễm.

Thêm vào đó, những người có HIV dương tính lại là những người hay có quan hệ tình dục qua hậu môn mà không có bảo vệ nhiều hơn với những người đàn ông đã bị nhiễm hoặc có thể mang HIV dương tính, và với cả những người biết rằng đối tác của họ đã bị nhiễm HIV hoặc sẽ bị nhiễm HIV (rất ít người bị HIV dương tính sẵn sàng quan hệ tình dục không sử dụng bao cao su với những người đàn ông mà họ biết là HIV âm tính).

Các cơ sở y tế đã cảnh báo và phản đối quan hệ tình dục qua hậu môn không có bảo vệ giữa những người cùng bị HIV dương tính, do lo ngại khả năng nguy cơ “bội nhiễm” (lây nhiễm lần thứ 2/ nhiễm trùng nặng), tái nhiễm từ một người đã bị nhiễm sẽ vô cùng nguy hiểm.

Chiến dịch tình dục an toàn ở Mỹ và các nước châu Âu luôn vận động những người đã bị HIV sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục qua hậu môn với một người khác. Tuy nhiên, không có chứng cứ thật sự nào được cụ thể hóa để chứng minh cảnh báo mang tính một thông điệp trên là đúng.Tác giả của một bài viết về văn học gần đây đã kết luận rằng “tỷ lệ thật sự và hậu quả của những ca bội nhiễm HIV đã được đưa ra khá chuẩn xác” và họ chỉ ra rằng, bội nhiễm, mặc dù nó có thể xảy ra và đã và đang được đưa vào các tài liệu nghiên cứu, tuy nhiên lại vô cùng hiếm (chỉ có 16 trường hợp được thông báo trên toàn thế giới từ năm 2002 đến năm 2005).

Quả thực, nhận thức và một thực tế rõ ràng về việc có thể hạn chế quan hệ tình dục không có bảo vệ giữa những người đàn ông đã bị nhiễm HIV được biểu hiện qua một kỹ thuật được gọi là “chọn lọc huyết thanh” và kỹ thuật này hiện đang được hoan nghênh như là một cách “quan hệ tình dục an toàn”. Đây là cách thức các bác sĩ gán cho hình thức chọn lựa bạn tình của các gay nhiễm HIV, những người này chỉ quan hệ tình dục với những người đàn ông khác cũng nhiễm bệnh như mình.

Tháng 11 năm ngoái, Cục Sức khỏe cộng đồng của San Francisco đã chính thức bắt đầu xúc tiến kỹ thuật “lựa chọn huyết thanh” như là một cách thức để phòng chống HIV.

Tuy nhiên, Kane Race (một nhà nghiên cứu tại Trung tâm Quốc gia về Nghiên cứu xã hội HIV tại Sydney) đã chỉ ra rằng rất nhiều kiểu quan hệ tình dục lại bị gán là “quan hệ tình dục qua hậu môn không an toàn” trong giữa thập niên 90 của thế kỷ trước và tới thời điểm bây giờ thì thường xuyên bị phản đối kịch liệt vì đã phá hoại việc nghiên cứu bệnh lý của những người đồng tính nam giới, thì trên thực tế lại chính là những gì đang trở nên phổ biến dưới một thứ được sửa sang, chắp vá: “lựa chọn huyết thanh”.

Những gì khác biệt về mặt hóa trị giữa hai thuật ngữ “lựa chọn huyết thanh” và “quan hệ tình dục qua hậu môn không an toàn” lại không cần thiết khi so sánh sự khác biệt về các hành vi ứng xử trong tình dục tự nhiên mà 2 thuật ngữ này ám chỉ. Như Race quan sát được, ở rất nhiều trường hợp “quan hệ tình dục qua hậu môn không được bảo vệ” và “lựa chọn huyết thanh” đơn giản chỉ là những cái tên thay thế luân phiên nhau để ám chỉ cho cùng một hành động trên thực tế.

Sự khác biệt giữa hai từ này không nhiều nếu so sánh giữa những gì mà nó thể hiện với cách hiểu về từng từ một khi nói về quan hệ tình dục không sử dụng bao cao su. Nếu “quan hệ tình dục qua hậu môn không được bảo vệ” đã gióng lên một hồi chuông cảnh báo như đó là một dấu hiệu cho sự vô trách nhiệm, cho một chủ nghĩa khoái lạc, sự phóng túng buông thả vô nguyên tắc của một bộ phận đồng tính nam giới, như Race lên tiếng chỉ trích, thì điều này là bởi, nó đã lờ đi những “điều khoản” về tình dục đã bị phản bác trong cộng đồng những người dương tính với HIV và việc không sử dung bao cao su là vì cho rằng như thế sẽ không tự nhiên. Không sử dụng bao cao su là một sự tự do cá nhân. “Lựa chọn huyết thanh” ngược lại, lại làm yên lòng, làm vững dạ những “điều khoản” về mặt vệ sinh, về mặt cộng đồng, về mang những mầm gây bệnh trong một mối quan hệ bền vững, ổn định và nó đem đến một hình ảnh mà khi nhìn vào chi tiết thì một khi tiến hành “lựa chọn huyết thanh” sẽ khiến một cá nhân có được sự thoải mái trong quan hệ tình dục, còn một cặp đôi thì sẽ là một cặp đôi thận trọng và khôn ngoan.



Quyền quyết định là ở họ

“Lựa chọn huyết thanh” được coi là kỹ thuật phòng chống an toàn nhất khi được đưa ra thực tế giữa những người đàn ông dương tính với HIV do họ là những người duy nhất thật sự biết tình trạng bệnh lý thật sự của mình là gì. Tuy nhiên, theo một Bản báo cáo thường niên về các xu hướng trong hành vi được Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu xã hội về HIV được công bố gần đây nhất thì “Lựa chọn huyết thanh” là một lựa chọn nguy hiểm hơn rất nhiều đối với những người âm tính với HIV, với vô vàn những lý do phức tạp.

Kane Race và nhà xã hội học Canada Barry Adam lo lắng rằng một số kỹ thuật giảm thiểu sự nguy hại lại có khả năng khiến làm tổn hại sức khỏe hơn. Tuy nhiên, mặc dù hiện đang xuất hiện một xu hướng hai người đồng tính nam quan hệ tình dục không sử dụng bao cao su, thì cũng không có nghĩa là nguy cơ lây nhiễm tăng cao. Bao cao su được sử dụng thay thế một số kỹ thuật giảm thiểu nguy hại nhưng hiệu quả mà nó mang lại lại không được như ý muốn. Tuy vậy, cũng thể kết luận rằng đa số đàn ông đồng tính phản đối tình dục an toàn, rằng họ chấp nhận sẽ gặp nguy hiểm khi quan hệ mà không dùng bao cao su như là một sự hiển nhiên, hoặc rằng những hành vi của họ chứng tỏ có vấn đề về mặt tâm lý. Ngược lại, như những gì mà các tác giả của Bản báo cáo hàng năm hành vi năm 2005 của Trung tâm quốc gia đã đưa ra, “Nhìn chung, phần lớn những người đàn ông chủ động quan hệ tình dục (ở Australia) duy trì một cách liên tục văn hóa quan hệ tình dục an toàn (kể từ khi đại dịch HIV/AIDS khởi phát) mặc dù việc duy trì tình dục an toàn trong một thời gian dài như vậy là khó khăn."

Để giải thích tại sao chỉ có một số tỷ lệ phần trăm nhỏ những người đồng tính nam tiếp tục những quan hệ tình dục không an toàn, thậm chí khi đại dịch HIV/AIDS đã bước sang thập kỷ thứ 3, cả các nhà khoa học và các nhà báo đều phải tính toán đến những động cơ thúc đẩy giới đồng tính nam quan hệ tình dục không an toàn. Điều đó có nghĩa là họ phải đưa chủ đề về đời sống tình dục của giới đồng tính nam, đời sống nội tâm của những người đồng tính luyến ái ra nghiên cứu và bàn luận. Phòng chống HIV/AIDS giờ đây đã trở thành một chủ đề thuyết trình công cộng mà ở đó nội tâm của những người đồng tính nam, vẫn luôn là một chủ đề để đưa ra bình luận. Việc nghiên cứu thế giới nội tâm của người đồng tính là việc khó khăn nhất trong các ca đồng tính nam da trắng – những người mà tình trạng nhân thân có vẻ như không bị áp lực về mặt chính trị hoặc công luận và cũng là những người mà hành vi của họ, vì vậy, mà không thể lý giải được bằng những nhân tố xã hội. Vậy cái gì ở bên trong đầu óc, tâm hồn và trái tim của những con người như vậy? Và chúng ta có thể có được những nét vẽ cơ bản gì về đời sống tinh thần của những người đồng tính luyến ái nam?

Để trả lời cho câu hỏi này mà không cần y khoa hóa lại về giới đồng tính luyến ái và nội tâm của những con người này, chúng ta cần phải viện đến những cách thức phi tâm lý học để nói về nội tâm của con người. Đó là những gì mà tôi đề cập đến trong bài viết “Những người đồng tính nam cần điều gì”. Tôi tin rằng văn hóa nội tâm đã đưa chúng ta đến với một số cách thức có thể thay thế mà chúng ta cần phải có. Chúng tôi chỉ phải học cách làm sao để nhận thức ra điều đó, giá trị của điều đó như thế nào và làm thế nào để đạt được những gì đã có từ lâu về văn hóa nội tâm. Những cách thức truyền thống như vậy cung cấp cho chúng ta một loạt những ví dụ có tính biện luận khá cao về việc làm thế nào để suy nghĩ về tình dục ngoài giới hạn của những phân tích tâm lý học – và làm thế nào để nghĩ về thế giới tình dục trong tâm tưởng mà không cần có sự phân tích về tâm lý học. Những suy nghĩ về nội tâm có thể có cùng mang tính khách quan của khoa học và sự phức tạp của tâm lý học hoặc các phân tích tâm lý học ./.

Tác giả: David Halperin

Trang Trang (Lược dịch theo American Sexuality magazine)