Cụm từ đồng tính nam MSM ( Men who have sexwith men ) hay nói một cách chính xác là nam quan hệ tình dục với nam dùng để chỉ những người đàn ông có quan hệ tình dục với người cùng giới, bất chấp việc họ tự xác định đặc tính tình dục của mình kà gì. cụm từ này được chọn sử dụng vì cho đến nay chỉ một nhóm nhỏ người có quan hệ đồng giới tự nhìn nhận mình là "gay", lưỡng tính hay đồng tính nhưng có thể sự nhìn nhận này là do xã hội nơi họ sinh sống gán cho. họ không nhìn thấy mối quan hệ tình dục đồng giới theo góc độ đặc tính tình dục hoặc khuynh hướng tình dục. nhiều người có quan hệ tình dục đồng giới vẫn tự nhận mình là "dị tính" chứ không phải là đồng tính hay lưỡng tính, nhất là những người có quan hệ tình dục với nữ giới hoặc đã lập gia đình, những người này chỉ cho trong quan hệ hậu môn và/hay những người quan hệ vì tiền hay vật chất.

MSM được phân thành nhiều nhóm nhỏ dựa vào:

* đặc tính tình dục, bất chấp hành vi tình dục (bóng, đồng tính, dị tính lưỡng tính, chuyển giới hay những dạng tương tự).
* sự thừa nhận và cởi mở về đặc tính tình dục khác thường của họ.
* bạn tình của họ (là nam, nữ hay/và chuyển giới).
* lý do họ đưa ra khi quan hệ tình dục với những người này (sở thích tự nhiên, bị ép buộc, vì động cơ kiếm tiền, cho vui và/hoặc vì ở trong môi trường chỉ có toàn đàn ông);
* vai trò của họ trong các kiểu quan hệ tình dục (cho, nhận, cả hai); và
* đặc tính tình dục dựa theo giới, vai trò và hanh vi của họ (nam hay nữ, mạnh mẽ của giống đực hay yểu điệu của giống cái, ăn mặc phù hợp giới hay ngược giới).

cụm từ MSM ngày càng trở nên phổ biến trong bối cảnh xã hội đang phải đồi phó với dịch HIV/AIDS. MSM được dùng nhiều vì nó chỉ ra hành vi nguy cơ, những hành vi có khả năng gây lây nhiễm cho người trong cuộc. cũng có một số ý kiến không đồng ý với cách dùng cụm từ này vì họ cho rằng MSM quá chú trọng đến hành vi tình dục mà lờ đi những khía cạnh khác, ví dụ như yếu tố cảm xúc, mối quan hệ, đặc tính tình dục,...mà theo họ những yếu tố kể trên cũng là tác nhân làm gia tănnguy cơ lây nhiễm. một số tổ chức và cá nhân thích cụm từ trong tiếng anh males who have sexwith males vì dùng như thế, theo họ, sẽ bao gồm tất cả những ai quan hệ tình dục với người đồng giới. hơn nữa cụm từ trên không giới hạn độ tuổi như trong cụm MSM vì "đàn ông" (men) không bao gồm thanh thiếu niên nam. vì vậy nếu dùng cụm từ males who have sexwith males sẽ bao hàm luôn quan hệ tình dục giữa nam thanh thiếu niên với nhau và giữa họ với người lớn.

cụm từ MSM được phát triển ở xã hội tây phương để mô tả và/hoặc để dùng trong y văn chỉ những hành vi tình dục giữa nam giới với nhau, ví dụ giữa hai người "gay"-"đồng tính" thêm vào đó, sự hình thành của "văn hóa người đồng tính" trong các xã hội tây phương ở thế kỷ 20 khiến người ta tin rằng có hai dạng người hoặc là " đồng tính " hoặc là "đàn ông thực thụ". sự phân chia rạch ròi này có thể đúng với một số người ở một số nơi trên thế giới, nhưng với phần lớn những người còn lại thì việc quan hệ tình dục với người đồng giới chỉ là một phần của đời sống tình dục và không quyết định đến đặc tính xã hội hay đặc tính tình dục của họ.

ta có thể bắt gặp một số MSM ngoài cộng đồng, trong đó bao gồm cả nam giới ăn mặc như nữ giới hoặc một phần như nữ giới. tuy nhiên những MSM khác thì hoàn toàn không phân biệt được với người bình thường. ở những vùng hoặc xã hội ít thấy hoặc không thấy bóng dáng của những người có "tình dục đồng tính", người ta tưởng rằng hiện tượng này không tồn tại. nhưng thực tế không phải như vậy. sự thực thì hầu như, nếu không phải là tất cả, xã hội nào cũng có chuyện nam giới quan hệ tình dục với nhau. nếu công luận từ chối thừa nhận sự tồn tại của quan hệ tình dục đồng giới thì rõ ràng nó không phản ánh được những gì xảy ra chốn đời thường.

MSM gồm:

* những người đàn ông chỉ quan hệ tình dục với nam
* người có quan hệ với nam nhưng phần lớn quan hệ với nữ giới.
* người có sở thích quan hệ với cả hai giới
* người quan hệ với nam vì mục đích tiền bạc hoặc vì họ không thể tiếp cận phụ nữ, ví dụ nam giới trong tù hoặc quân ngũ

trong những nhóm kể trên lại chia thành những nhóm nhỏ hơn, ví dụ sự phân chia nhóm dựa vào vai trò của người đó khi quan hệ đồng giới:

* nam giới luôn là người cho trong quan hệ hậu môn xâm nhập
* nam giới luôn là người nhận trong quan hệ hậu môn xâm nhập
* nam giới vừa là người cho vừa là người nhận
* nam giới không quan hệ đường hậu môn nhưng lại thực hiện các hành vi khác như quan hệ qua đường miệng, thủ dâm cho người kia
* nam giới đóng các vai trò khác nhau và quan hệ theo nhiều dạng tùy vào từng thời điểm trong đời.

có lẽ nhóm MSM lớn nhất ở hầu hế các nước châu á là những người không thừa nhận hành vi "ngược dòng" của mình là "gay" hay "đồng tính", thường có quan hệ tình dục bí mật, giấu diếm với bạn tình nam giới khác. một số trong nhóm này thậm chí có gia đình và/hoặc quan hệ tình dục với nữ giới. một số tự thấy mình là lưỡng tính.

một số nam giới tự nhận mình là dị tính hoặc lưỡng tính đôi khi quan hệ với nam giới để thỏa mãn thú vui, nhất là trong những trường hợp không tiếp cận được phụ nữ. một số người khác lại quan hệ chủ u yếu với MSM đã chuyển giới mà vẫn không cho mình là "gay" hoặc "đồng tính", vì trong bối cảnh văn hóa đó, người chuyển giới không được coi là nam giới nữa.

có nam giới có khuyenh hướng tình dục tự nhiên nhưng lại quan hệ với nam vì không tiếp cận được với nữ giới. đây có thể là hệ quả của một xã hội bảo thủ cấm đoán, tách biệt nam với nữ hoặc do phải sống trong môi trường toàn nam giới trong một thời gian dài ví dụ trong tù, căn cứ quân sự, khu lao động nhập cư, các học viện dành cho nam. vì không thể tiếp cận với nữ giới, một số người đã tìm cách thỏa mãn nhu cầu cầu của mình với nam giới khác. trong trường hợp đó họ vẫn không tự nhận mình là "gay" hay đồng tính.

nhiều người hành nghề mại dâm nam ở nhiều nước châu á vẫn tự cho mình là người dị tính vì theo họ việc quan hệ tình dục với nam giới kia chỉ là cách kiếm tiền nuôi gia đình. nhóm đối tượng này thường đã lập gia đình hoặc có bạn gái hay người tình nữ. tuy nhiên không phải vậy mà gạt đi những người hành nghề mại dâm nhìn nhận mình là "gay" hoặc đồng tính và chỉ quan hệ tình dục với nam mà thôi.

một số người chỉ muốn quan hệ tình dục đồng giới nhưng vì áp lực gia đình, họ phải kết hôn và quan hệ với nữ giới. số khác thích quan hệ với nam giới nhưng cũng không từ chối quan hệ với nữ giới và ngược lại. lại có một số chỉ thích quan hệ tình dục với nữ giới nhưng vẫn quan hệ với nam giới để kiếm tiền hoặc vì không thể tiếp cận với nữ giới. đó chưa kể đến vị trí lưng chừng của những người chuyển giới nam sang nữ cũng góp phần vào bức tranh đa sắc này.

đôi nét về cụm từ "gay"

cụm từ "gay" được sử dụng như "đồng tính", dùng để chỉ những người có khuynh hướng tình dục và hấp lực chủ yếu, nếu không nói là duy nhất, với nam giới.

một số người tự nhận mình là "gay" vì họ muốn "chính trị hóa" để làm phương tiện đấu tranh cho quyền lợi của người đồng tính. dần dà cụm từ được dùng trong ngữ cảnh xã hội và chính trị.

tuy nhiên, từ gay có thể mang nhiều ý nghĩa khác nhau tùy cách sử dụng từng khu vực. lấy ví dụ ở vùng nông thôn thái lan, cụm từ được dùng để chỉ một người nam có biểu hiện như nữ giới hoặc katoey - tương tự cách dùng cụm từ MSM ở campuchia. trong khi đó tại bangkok, cụm từ mang ý nghĩa xã hội và chính trị hoặc chỉ đặc tính tình dục của người vừa là người cho vừa là người nhận trong quan hệ tình dục

đặc tính tình dục của MSM và hành vi tình dục của họ được xây dựng ở các quốc gia khác nhau hoặc ở các vùng khác nhau trong một quốc gia. sự phân loại tùy thuộc vào giai cấp kinh tế - xã hội cũng như giữa nông thông và thành thị.

vì sao một số nam giới lại quan hệ tình dục đồng giới?

cho đến nay người ta vẫn chưa trả lời được câu hỏi vì sao hầu hết mọi người thấy mình hấp dẫn tình dục với một người khác giới, thế mà một số khác lại không. ngược lại, nhóm người này chỉ thấy người cùng giới mới hấp dẫn. một số giả thiết được đưa ra nhấn mạnh đến sự khác biệt về sinh học giữa một người dị tính với một người đồng tính. những giả thiết này cho rằng tình dục đã được quyết định ngay khi người ta sinh ra. nhiều cuộc thí nghiệm và xét nghiệm đã được thực hiện nhằm đo lường sự khác biệt về nồng độ hóc mơn, cấu tạo gien, cấu trúc não bộ của người dị tính và người đồng tính, kết quả cho đến nay vẫn không có gì rõ ràng.

một cách giải thích tâm lý hướng đến tầm quan trọng của kinh nghiệm sống, tuổi thơ và mối quan hệ với người khác, nhất là với cha mẹ. một người giả định về tình dục và hành vi tình dục của mình như thế nào là do ảnh hưởng của gia đình, kinh nghiệm cá nhân và nhận thức về bản thân của họ. những giá trị về tình dục được hình thành từ những giá trị của gia đình, về sau, giá trị hoặc niềm tin của họ có thể bị thử thách và thay đổi bởi kinh nghiệm thỏa mãn nhu cầu hoặc không thỏa mãn tình dục của cá nhân. chính niềm tin này quyết định việc lựa chọn các hành vi tình dục và bạn tình. trong suốt cuộc đời, cảm nhận của bản thân về bản thân có tác động mạnh mẽ đến kinh nghiệm và khuynh hướng tình dục của họ. lại có một lý thuyết khác lý giải việc thích quan hệ với người cùng giới là vấn đề lý trí, rằng nam quan hệ với nam là để làm thay đổi vai trò về giới đã được xã hội thiết lập. tuy nhiên, cả hai lý thuyết trên không đưa ra được nhiều bằng chứng chứng mình tính đúng đắn của mình.

một số nhà nghiên cứu cho rằng có thể khuynh hướng tình dục là sự pha trọn giữa yếu tố sinh học (tự nhiên) với điều kiện xã hội (nuôi nấng).

ngay cả khi hai người nam quan hệ tình dục với nhau thì có thể mỗi người đã có lý do khác nhau rồi. lấy vi dụ trong tình dục mại dâm, khách hàng có thể thích quan hệ với nam nhưng người nam bán dâm kia có thể thích quan hệ với nữ giới. nhưng bất chấp khuynh hướng thích nam hay nữ, người bán dâm cần thứ anh ta muốn mà những vị khách hàng có thể trao cho anh ta thông qua tình dục.

một số người phải quan hệ đồng giới vì họ không thể tiếp cận được với phụ nữ. thánh thiếu niên nam tại các trường nội trú hoạc thanh niên sống trong môi trường chỉ có đàn ông, ví dụ sống trong tù hoặc doanh trại quân đội, tìm đến nhau để thỏa mãn nhu cầu tình dục.

lại có những người bị cưỡng ép quan hệ tình dục với nhau như một dạng bị trừng phạt hoặc thiết lập quyền uy. điều này thường diễn ra sau song sắt các nhà tù nhưng cũng có thể sảy ra tại bất cứ đâu. sự cưỡng ép tình dục thường sử dụng bạo lực hay đe dọa, tuy nhiên cũng tồn tại sự cưỡng ép tâm lý để bắt buộc một người quan hệ tình dục với nam giới.
theo hiv.com