Thấy tôi hay tò mò tra cứu, một anh bạn bèn hỏi tôi về câu chuyện Đông trùng hạ thảo, một thứ Đông dược thảo thần kỳ. Chẳng hạn như vào năm 1993, Trung Hoa lục địa tổ chức một Đại hội Thể thao với sự tham dự của nhiều quốc gia. Một toán chín nữ lực sĩ Trung Hoa đã toàn thắng về môn chạy đua. Thành tích của họ đã làm giới thể thao quốc tế kinh ngạc vì cả thẩy chín „ lực sĩ gái“ đã phá kỷ lục, chạy lanh 42 giây trên kỷ lục quốc tế! Người ta nghi có sự gian lận bằng cách „ đốp ping“ (doping) tức là chích kích tố steroid để tăng cường một cách giả tạo nhất thời cho các lực sĩ hăng sức trước khi thi đua, nên đã điều tra thử nghiệm kỹ. Kết quả chứng minh rằng không phải gian lận! Tuy nhiên khi hỏi nhóm dìu dắt, huấn luyện viên Trung hoa thì họ nói là nhờ dùng đông trùng hạ thảo nên các lực sĩ mới thi thố tài năng tuyệt diệu như vậy.


Để thỏa mãn sự tò mò của bạn đọc, sau đây là vài chi tiết mô tả của sâu và cây nấm thực sự mà chúng ta không có dịp quan sát khi chúng còn tươi nguyên trạng vì ở tiệm thuốc bắc, chúng ta chỉ thấy ĐTHT là những cọng cây khô rụng gẫy đầu đuôi được bó bằng chỉ để bán ra thôi.
Ấu trùng của bướm dài khoảng từ 3- 6 cm, dày độ 0.4 - 0.7, sắc nâu vàng, mình nhám với nhiều vạch chạy ngang. Sâu có 8 cặp chân cụt ở khúc bụng và 4 cặp chân hơi dài ở khúc trên. Cắt ngang mình sâu thì thịt sâu ở ruột màu trắng hơi ngả vàng vàng, còn chung quanh có màu vàng sẫm.
Cây nấm mọc từ đầu con sâu trông nhưng một cái cọng cắm vào, đầu cọng phình ra như cái chùy rồi thuôn nhỏ lại. Cây mầu nâu hay sẫm đen lại, dài 4 - 8 cm, kính đo 0.3 cm, chót đầu há ra cho thấy ruột trắng ở trong và một hốc rỗng, đây là phần mang bào tử thường bị gẫy khi phơi khô.
đông trùng hạ thảo thường gặp ở những vùng rừng ẩm ướt như Tứ xuyên, Thanh hải, Quí châu, Vân Nam (Trung quốc), Tứ xuyên sản xuất nhiều hơn cả. Danh từ ĐTHT ( âm Tầu : dong chong xia cao ; âm Nhật: tochu kaso) cũng quen được gọi tắt là „ đông trùng thảo „ dong chong cao) . Ở Tây tạng và Việt nam cũng có đông trùng thảo, nhưng chỉ thấy ngoài Bắc miền cao như miệt Lạng sơn, còn miền Trung và Nam, không thấy nói đến.
Cách ăn đông trùng tươi ở miền Bắc chưa được tác giả nào tả kỹ về kỹ thuật hay nấu nướng như trong Nam người ta ăn con đuông dừa, chắc chỉ lăn bột chiên dầu chăng?
Khi làm thuốc tốt hơn cả thì người ta chọn khúc đông trùng thảo nào mập, vàng ruột và cọng cây đầu ngắn.
Trên phương diện sinh thái học, rõ ràng là một cây nấm đã giết một con sâu để phát triển và sinh tồn. Người ta muốn áp dụng điều này để tiêu diệt côn trùng trong sự bảo vệ môi trường, nhưng vì hiện tượng này hạn hẹp nên không thực tiễn cho lắm.

Tên „đông trùng hạ thảo“ được ghi chép là vị thuốc lần đầu trong cuốn Bản thảo cương mục đời Minh của Lý thời Trân. Dược tính theo Đông Y là vị ngọt, tính ấm, hơi độc. Nó nhập vào kinh Phế và kinh Thận. Tác dụng là bổ hư, kích phát nguyên khí, trừ ho, hóa đàm. Do đó, nó trị khó thở và ho do chứng đàm thấp; trị khó thở do hư nhược, ho do lao tổn, ho ra máu, đổ mồ hôi tự nhiên hay ra trộm về đêm; trị dương nuy hay bất lực tình dục và di tinh; trị đau thắt lưng và đầu gối, bổ hư trong thời gian bình phục một cơn bịnh.
Liều lượng mỗi ngày là 5- 10 gr. Tránh dùng trong các bịnh xuất huyết hay có dấu hiệu biểu phát ra ngoài.
Cách dùng là nấu 15 - 30 gr với một con vịt để trị hư tức ( khó thở do suy nhược) hay nấu cùng liều lượng với thịt heo để trị thiếu máu , sinh lý bất lực hay di tinh.
Thành phần hóa học gồm Cordyceptic acid & Cordycepin. Ngoài ra còn có khoảng 25 - 30 % protein, 8% chất béo và đường mannitol. Sự khảo sát dược lý cho thấy đông trùng thảo có những hiệu lực sau:
1- làm dãn nở trên cuống phế quản
2- làm chuột thí nghiệm nằm yên và ngủ
3- Cordycepic acid có công năng chận các thứ vi khuẩn staphylococci, streptococci trong ống nghiệm
4- Chận đứng nhiều loài meo nấm
5- Trích ly của đông trùng thảo chích mạch máu cho chuột làm giảm huyết áp.