+ Viết bài mới
Hiện kết quả từ 1 tới 2 của 2
  1. #1
    Tham gia ngày
    Aug 2009
    Đến từ
    Bên cạnh nhà hàng xóm
    Tuổi
    26
    Bài gửi
    2.218
    Thanks
    54
    Thanked 11 Times in 11 Posts
    Năng lực viết bài
    431

    Mặc định Chân dung người đồng tính.

    Đồng tính ái (homosexuality) là một chủ đề đặc biệt, vừa mang tính riêng tư lại vừa đặc biệt nhạy cảm. Đối với một người thực hành tâm lý lâm sàng, chủ đề đồng tính ái cũng đặt ra các khó khăn nhiều mặt cần phải giải quyết. Người đồng tính ái không chỉ gặp khó khăn “bởi vì” họ là đồng tính, mà họ còn gặp phải những khó khăn trong cuộc sống đời thường như bao con người khác trong xã hội. Cái nhìn của xã hội ngày nay về người đồng tính ái đã khác xưa rất nhiều nhưng không vì thế mà cuộc sống của những người này có thể trở nên dễ dàng hơn.




    Trong khuôn khổ một bài báo cáo hội thảo, tôi không hề có tham vọng đề cập đến những vấn đề lớn lao liên quan đến tầm mức văn hóa, xã hội của hiện tượng đồng tính ái, mà chỉ mạn phép trình bày chủ đề này dưới những quan điểm và trải nghiệm của một người thực hành tâm lý lâm sàng. Với cách thức như thế, tôi có dịp cùng với quý vị có cái nhìn “cận cảnh” hơn về những con người có khuynh hướng tình dục đặc biệt này. Do có cơ hội làm việc trong nhiều môi trường, hoàn cảnh khác nhau nên tôi cũng có dịp tiếp xúc với người đồng tính ái trong nhiều tình huống khác nhau mà từ đó đã đặt ra nhiều nhu cầu và mục tiêu khác nhau cho công việc của tôi. Vì những lẽ đó, tôi xin được trình bày dưới đây ít nhất 5 tình huống thường xảy ra khi tôi có dịp tiếp xúc và hỗ trợ tâm lý cho những thân chủ này.

    Tình thuống thứ nhất – “Tôi là ai?”

    Đây là tình huống mà theo tôi có vẻ hiếm hoi đối với những chuyên viên làm việc tại các trung tâm tham vấn hoặc các cơ sở làm tâm lý trị liệu, trừ khi ở đó là một cơ sở tham vấn dành riêng cho lứa tuổi vị thành niên hoặc người mới trưởng thành, hoặc ở một chừng mực nào đó một chuyên viên tâm lý học đường cũng có thể gặp phải. Trong tình huống này, một người trẻ tuổi (vị thành niên hoặc mới trưởng thành) bắt đầu ngờ ngợ hoặc dần dần cảm thấy rõ ràng về việc bản thân mình có khuynh hướng lựa chọn đối tượng tình dục là người đồng giới tính.



    S. là một thiếu niên 16 tuổi khi gặp tôi. Cậu làm công cho một xưởng giày da tư nhân. Cậu phải ở lại xưởng cả ngày, ăn và nghỉ trưa tại chỗ cùng các công nhân khác. Trong một buổi nghỉ trưa, một nam công nhân tuổi trên 20 tuổi đã đến chỗ S. nghỉ, làm những động thái “ve vãn” cậu, rỉ tai những lời dỗ ngọt và khiến S. đồng ý cho anh ta “thám sát” thân thể của mình. Những lần như thế cứ hay lập đi lập lại và S. cũng cảm thấy thích thú với cảm giác được gần gũi anh thanh niên kia. Vài tháng sau, S. nghỉ làm việc ở xưởng và giúp mẹ bán quán cơm tại nhà. S. nói với tôi rằng cậu thấy nhàm chán với việc bán quán và cứ sau mỗi 9 giờ đêm cậu lại “xuống phố” đến những nơi có đông người đồng tính lai vãng và cậu cũng đã “hò hẹn” được với vài anh bạn lịch lãm thường dẫn cậu đi uống nước, đi chơi, cho tiền xài... S. hỏi tôi “Như thế em có bị đồng tính không?”

    Khác với S., N. là một thanh niên 23 tuổi. Từ lúc còn học lớp 8 (khoảng 13-14 tuổi) N. tự phát hiện mình có cảm giác thích thú khi nghĩ về hoặc khi tiếp xúc với những người bạn trai trong lớp. Và khuynh hướng này càng lúc càng trở nên rõ dần khi N. học đến cuối cấp 3. N. cho tôi biết cậu rất rõ mình như thế nào, có vẻ chấp nhận tình trạng này và chấp nhận tất cả những mối quan hệ với những ai mà cậu có cảm tình. Điều băn khoăn khi N. gặp tôi ấy là cậu phải ứng xử ra sao với người thân khi họ biết được sự thực về cậu.

    Dù tâm trạng còn “ngờ ngợ” như S. hoặc đã rõ ràng như N., cả hai đều đang ở lằn ranh của sự khởi đầu cho một cuộc sống mà dự báo có thể thấy là không phải dễ dàng. Cả hai đều cảm thấy mình mang theo một bí mật mà vào lúc đó chỉ có thể tiết lộ, bộc bạch thoải mái cho những “người đồng cảnh” hơn là cho những thân quen. Trong cái bản sắc cá nhân mới hình thành ấy, cả hai đều có thể thấy mình “có lỗi” nếu phải sống như con người mà mình thực có và ngược lại, nếu phải giấu giếm sự thật hoặc sống theo khuynh hướng thông thường của đa số người cùng tuổi thì cả hai đều cảm thấy là “không thật” và “không thể”.

    Tình huống thứ hai – “Sao lại là con tôi?”

    Tình huống hai có thể xem là hệ quả tất yếu theo sau tình huống thứ nhất vừa nêu trên, một khi khuynh hướng đồng tính của đứa con mới lớn đủ gây nên sự chú ý, băn khoăn của cha mẹ. Khác với tình huống trên, những mối bận tâm lớn nhất ở đây xuất phát chủ yếu là từ cha mẹ và thường trước khi gia đình tìm đến dịch vụ hỗ trợ tâm lý thì đã có những mối bất đồng và mâu thuẫn sâu sắc giữa cha mẹ và con. Thực tế cho thấy sự phát hiện và sau đó phải đối mặt với việc có một đứa con mang khuynh hướng đồng tính ái là một điều cực kỳ khó khăn đối với các bậc cha mẹ.


    L. là một cô gái xinh đẹp, học giỏi, và là một đứa “con ngoan” mãi cho đến năm lớp 12 khi người mẹ nhận thấy L. dành nhiều thời gian cho việc “lui tới” với những cô bạn gái khác. Việc nghiêm trọng nhất đối với người mẹ đó là lần bà phát hiện L. “đi lại” với một người phụ nữ hơn L. nhiều tuổi và đã có chồng. Người chồng của chị này cũng phát hiện vợ mình có điều đáng nghi vấn và sau khi tìm hiểu cặn kẽ sự việc anh đã liên hệ và nói chuyện với mẹ của L. Đó thực sự là một cú sốc cho người mẹ, một phụ nữ Công giáo rất sùng đạo. Người bố cũng thế mặc dù ông tỏ vẻ bình tĩnh hơn sau khi có phần oán trách, đổ lỗi cho mẹ gây ra chuyện này! Về phần hai vợ chồng kia, sau khi bình tĩnh nói chuyện với nhau người phụ nữ (bạn của L.) đã quyết định chia tay với L. và “trở về” với cuộc sống cùng chồng và hai đứa con nhỏ. L. sau chuyện ấy đã suy sụp tinh thần còn bố mẹ L. thì cố gắng hết sức để tìm cho L. một người bạn trai là Việt Kiều từ nước ngoài về. Dưới sức ép của gia đình, L. đã quyết định sẽ kết hôn cùng người bạn trai kia sau khi hai gia đình đã làm lễ dạm ngỏ, nhưng cô cho biết là cô thực sự chẳng có chút tình cảm gì với người thanh niên kia và cô chỉ làm điều này như thể để “chiều ý bố mẹ”, để “sớm thoát khỏi những ràng buộc và áp lực không chị nổi”, chứ không xem đây là cuộc sống hạnh phúc thực sự mà cô muốn có.

    Một trường hợp khác tôi xin nêu ra đây là C. – một thanh niên 21 tuổi, cùng đi với bố đến gặp tôi. Khác với mẹ của L., người bố của C., một cựu sĩ quan quân đội, đã tỏ vẻ điềm tĩnh hơn khi trao đổi với tôi về tình trạng của con trai mình. Ông dường như đã nhận ra điều “khác thường” ở con trai mình từ lâu và mặc dù vẫn còn đôi chút hy vọng về một khả năng “chữa trị” cho C. ông cũng đã gần như chấp nhận sự thực này. Ông chỉ bày tỏ với tôi nỗi lo về sức khỏe của mẹ C. vì bà gần như không chịu tin vào tai mình khi tự C. thú thật và khẳng định rằng cậu không muốn thay đổi khuynh hướng vốn có của mình. Khi đó bà đã bị tăng huyết áp và nằm suy sụp một chỗ trong nhiều ngày. C. cho tôi biết cậu rất hiểu hoàn cảnh của mình và chấp nhận nó. Cậu làm công việc phụ giúp phục trang cho các cô người mẫu biểu diễn thời trang và có khả năng tự lo cho cuộc sống. C. có vài “bạn trai” và biết rõ cách thức làm thế nào để quan hệ tình dục an toàn (cậu cũng công khai các quan hệ của mình cho người bố biết).

    Tuy không giống nhau về thái độ chấp nhận tình trạng của con, nhưng cả mẹ của L. và bố của C. đều “thấy trước” tương lai của con không hề giống với những ước mong và kỳ vọng ban đầu của mình. Họ còn đến mức nghĩ rằng thà con mình sống độc thân không lập gia đình hoặc thậm chí làm một điều gì đó “lầm lỗi” trong quan hệ nam nữ thì vẫn còn tốt hơn nhiều so với tình trạng đồng tính!

    Tình huống thứ ba – “Chuyện giữa chúng tôi với nhau”

    Những người có khuynh hướng đồng tính ái đôi lúc vẫn có thể tiết lộ cho chúng ta – những người thực hành tâm lý lâm sàng – biết về những gì xảy ra giữa họ với nhau, tuy rằng việc này không phải lúc nào cũng có thể được kể ra một cách dễ dàng và thoải mái. Tôi xin không nêu những hành vi thông thường họ vẫn làm khi quan hệ thể xác, chỉ xin kể ra trường hợp khá đặc biệt về H., một cô gái 18 tuổi, đang học lớp 12 đem lòng yêu mến một bạn gái cùng tuổi nhưng phải sớm ra đời làm việc cho một tiệm uốn tóc. Tôi đã nói chuyện với H. bốn lần, tất cả đều qua điện thoại, không gặp mặt, chỉ nghe tiếng nói mà thôi.


    H. nói về gia đình mình như một nơi chốn tầm thường, nhàm chán, bố mẹ chỉ biết làm việc và không có anh chị em. Tuy nhiên, H. không nói nhiều về mình. Cô dành phần lớn thời gian nói chuyện để kể về T., bạn gái của mình. Gia đình T. không được hạnh phúc, bố mẹ thường hay xung khắc, gây gỗ, đôi khi đánh nhau trước mặt con. H. cho biết bố của T. là một người hết sức nghiêm khắc, cả với người mẹ và với T. Cho đến một ngày kia, T. cảm thấy cô độc đến mức đã nghĩ đến việc tự sát. Khi đó, H. cảm thấy mình phải làm một điều gì đó để làm điểm tựa an ủi cho T.

    Mối quan hệ giữa hai cô gái được H. trình bày như một sự gắn bó vì những lợi ích tương thân tương trợ. Với những trải nghiệm vào đời sớm và sự “từng trải” với những khổ tâm trong quan hệ gia đình, T. giống như một người “chị” của H., tuy rằng về tuổi đời cả hai bằng nhau. T. còn giúp H. bớt đi nỗi nhàm chán, trống vắng của bản thân mình. Ngược lại, khi T. có những bất ổn trong tâm tư và đời sống, H. lại xuất hiện như một nguồn hỗ trợ có tính an bình và nhẹ nhàng. Qua điện thoại, tôi cũng nghe thấy giọng nói của H. trầm và êm dịu như thể của một người lớn hơn tuổi thật của H.

    Chuyện của H. và T. có vẻ là một trong số những chuyện “hiếm” được nghe kể từ những “người trong cuộc”. Những câu chuyện như thế cũng giúp phần nào hé mở khung cảnh sống khá đóng kín của họ (“đóng kín” ở đây là đối với số đông những người khác không phải đồng tính ái như họ), nhất là của những người đồng tính ái nữ.

    Đa số chúng ta khi nghĩ đến những người đồng tính ái thường hình dung về những khuynh hướng “lệch lạc” của họ, xem họ như những người có tinh thần yếu đuối, thậm chí là “bệnh hoạn”; đa số người khác xem họ là những người có những khiếm khuyết, cần phải được chữa trị. Ít khi ta nghĩ đến những hoàn cảnh khó khăn của họ và càng ít nghĩ đến những động cơ hoặc hoài bão tốt đẹp của họ. Có thể trong khi kể chuyện về T., cô H. đã phần nào làm lu mờ đi bản chất mối quan hệ giữa hai người, và cũng có thể một thái độ mang tính tự vệ như thế giúp H. bộc lộ với tôi thuận tiện hơn. Nhưng dù sao việc H. đến với T. ít nhất cũng đã giúp cô tìm thấy được những ý nghĩa và động cơ tích cực để sống trong đời. Đó phải chăng là một trong những yếu tố quan trọng hình thành khuynh hướng đồng tính ái mà ta có thể thực sự vẫn chưa biết hết?

    Tình huống thứ tư – “Đừng để nàng (hoặc chàng) biết chuyện?”

    Tôi có nêu trong tình huống thứ hai những khó khăn khi cha mẹ phải đối mặt với sự thật là con mình có tình trạng đồng tính ái. Trong phần này ta sẽ đề cập đến một tình huống mà theo tôi nó có phần khó xử hơn, nghiêm trọng hơn: Đó là khi một người phát hiện ra khuynh hướng đồng tính ái ở bản thân mình vào thời điểm mà họ đã lập gia đình, đã có chồng, có vợ như bao người khác và thậm chí đã có con. Ở phần trên cũng có nói về trường hợp một phụ nữ có quan hệ với một cô gái (cô L. trong tình huống thứ hai) khi đã có chồng, có con. Dẫu rằng khi người chồng biết chuyện, người phụ nữ ấy đã “trở lại” với chồng, nhưng không cần tìm hiểu thêm chúng ta cũng có thể hình dung được những điều khó xử xuất hiện giữa hai vợ chồng họ sau sự cố ấy.


    Tôi xin trình bày một trường hợp khác: Anh B. Vào lúc gặp tôi anh đã 47 tuổi. Anh nói với tôi rằng anh đã lập gia đình, đã có vợ và một đứa con gái, nhưng anh thực sự “mới biết yêu chỉ khoảng 2 năm gần đây thôi!”. Anh lim dim mắt và mô tả về tình yêu đó là “rất tuyệt vời” – tình yêu với một thanh niên trai trẻ chỉ mới 27-28 tuổi thôi. Anh B. đã gặp người bạn trai ấy ở một tỉnh xa trên đường anh đi công tác. Anh kể về những giây phút hạnh phúc, những nỗi nhớ và cả những lần giận nhau, tránh né nhau, rồi lại làm lành... B. nói toàn chuyện về người thanh niên ấy, chỉ nói đến vợ mình vào cuối buổi nói chuyện khi chúng tôi bắt đầu đề cập đến việc B. sẽ như thế nào nếu vợ mình biết chuyện. Đó quả là một việc rất khó xử, nhưng B. vẫn một mực khăng khăng rằng cách tốt nhất là anh ta vẫn tiếp tục duy trì mối quan hệ với “người tình” và mặt khác vẫn giữ kín bí mật này với vợ, bởi vì theo B. chia tay “người tình” hoặc làm tổn thương cho vợ đều là “có lỗi”.

    Nếu các bậc cha mẹ bị “sốc” và khó chấp nhận khi biết con mình đồng tính thì một người đã có gia đình cũng sẽ có tâm trạng khủng hoảng tương tự khi phát hiện ra khuynh hướng này ở người đồng hôn phối với mình. Tuy nhiên, khi phần đông các bậc cha mẹ vẫn không từ bỏ đứa con ruột thịt do mình đẻ ra, thậm chí họ còn giúp giữ kín bí mật của con mình đối với “người ngoài” thì ở các cặp vợ chồng hầu hết đều cảm thấy xuất hiện một sự đổ vỡ mà họ khó có thể hàn gắn nổi.

    Tình huống thứ năm – “Nguy cơ và trắc trở”

    Những cặp đồng tính thường gắn bó với nhau nhưng không có nhiều những ràng buộc về mặt nghĩa vụ. Giống như cách nói của một phụ huynh mà tôi đã từng được nghe khi họ nói về tương lai của đứa con gái của mình về cuối đời “sẽ trở thành một gái già độc thân sau khi đã trải qua nhiều mối tình mà phải kết thúc bằng sự chia tay”. Trong một tài liệu chuyên môn trước đây tôi đọc được cũng có tác giả nói ví von về người đồng tính ái ở tuổi trưởng thành giống như những người “mãi mãi là vị thành niên”, ít nhất là khi xem xét đến khả năng của họ trong việc xây dựng một gia đình theo kiểu “truyền thống”, được xã hội chấp nhận.

    Người đồng tính ái trong cuộc sống vẫn có thể phải đương đầu với những khó khăn và thách thức như bao nhiêu người khác trên đời. Tuy nhiên, do hoàn cảnh đặc thù của họ, nhất là khi có sự kỳ thị từ người khác hoặc sự tự kỳ thị từ phía bản thân, người đồng tính ái ít nhiều sẽ gặp khó khăn trong việc thiết lập những mối quan hệ thân tình, mật thiết với người khác, và điều đó làm giảm đi những nguồn lực hỗ trợ hiệu quả khi họ gặp vấn đề khó khăn trong công việc và cuộc sống.


    Trong thời gian làm việc tại một trung tâm cai nghiện ma túy, tôi biết đến M. một học viên nam 45 tuổi điều trị trong trung tâm, một người đồng tính ái, nghiện ma túy nhiều năm và đã nhiễm HIV. Anh M. trước đó đã vào ra các trung tâm cai nghiện khác nhiều lần và từng là một trong các “đại bàng” (“đại bàng” là từ dùng để chỉ những học viên cai nghiện có uy quyền và ảnh hưởng lên các học viên khác) rất nổi tiếng. Cả trung tâm ai cũng biết rằng M. sử dụng một nickname (tên hiệu) là tên con gái và thích người khác gọi mình bằng cái tên ấy. Một buổi chiều nọ trong trung tâm, M. gặp tôi báo rằng có một nam học viên khác đang khủng hoảng tinh thần và đã vào toilet toan dùng một que sắt nhọn để tự sát. M. đã phát hiện và đưa người này về phòng nghỉ rồi gặp tôi thông báo sự việc. M. đề nghị tôi nói chuyện với người học viên kia và tìm giúp những biện pháp để hỗ trợ tức thời cho anh ta.

    Sự việc này phần nào làm nên một hình ảnh khác về M., một người đồng tính ái, một con nghiện lâu năm, một “đại bàng” khét tiếng, cũng là một người hào hiệp, “thấy chuyện ra tay”. Đến một hôm, vào dịp cuối tuần khi các gia đình được phép vào thăm con em trong trung tâm, tôi nhìn thấy M. ngồi trước bố, mẹ và chị, khóc ròng như một đứa trẻ... Có lẽ M. nhìn thấy trước cái kết của cuộc đời mình, theo như cách nói thông thường của những người trong cuộc là “có chơi thì có chung”, nghĩa là có hưởng thụ thì có chi trả, vậy thôi!

    Không phải ai là người đồng tính ái cũng đều nhiễm HIV hoặc nghiện ma túy, nhưng phải chăng trong những hoàn cảnh ngặt nghèo nhất ta mới có thể thấy hết những khía cạnh khác nhau trong tính cách của những con người này?

    Thay cho lời kết

    Tôi không có tham vọng cùng lúc trình bày nhiều trường hợp lâm sàng. Tôi cũng không cố gắng “nói cho hết” những gì liên quan đến người đồng tính ái. Tôi chỉ muốn thông qua các tình huống có thực để giúp bản thân mình hình dung rõ hơn những gì mà một người đồng tính ái có thể trải qua, và cũng qua đó có thể chia sẻ với quý anh chị đồng nghiệp những trải nghiệm mà mình có được qua quá trình thực hành lâm sàng.

    Mối quan hệ hỗ trợ trong tâm lý trị liệu là một mối quan hệ có tính nhân bản. Thay vì quá chú trọng đến các con số thống kê, các học thuyết, các cơ chế tâm bệnh và các kỹ thuật (hẳn nhiên trong làm việc vẫn cần những điều này), điều quan trọng theo tôi là ta nên có một cái nhìn có tính người đối với từng cá nhân thân chủ. Sẽ khó có thể làm việc để giúp đỡ một người nếu ta không hiểu rõ cảnh đời riêng tư của người đó. Điều này cũng không khác khi ta làm việc với những người đồng tính ái. Họ thực sự không cần ta giúp để “hết bị đồng tính”. Cái mà họ thực sự cần ta giúp là làm sao cho sự thật này trở nên dễ được chấp nhận hơn, để sự thật này không tạo ra sự ngăn cách giữa họ với cuộc sống và để cuộc sống thừa nhận những bản sắc thực sự của họ. Những “lầm lỗi” của họ (nếu có) chung qui lại cũng là những lầm lỗi mà tất cả những người khác trong đời đều có thể phạm phải, chứ không thể đơn giản qui cho lý do là vì họ là người đồng tính ái.


    Bs. Nguyễn Minh Tiến
    Theo Tamlytrilieu

  2. #2
    Tham gia ngày
    May 2009
    Tuổi
    28
    Bài gửi
    142
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts
    Năng lực viết bài
    325

    Mặc định Re: Chân dung người đồng tính.

    Những cặp đồng tính thường gắn bó với nhau nhưng không có nhiều những ràng buộc về mặt nghĩa vụ. Giống như cách nói của một phụ huynh mà tôi đã từng được nghe khi họ nói về tương lai của đứa con gái của mình về cuối đời “sẽ trở thành một gái già độc thân sau khi đã trải qua nhiều mối tình mà phải kết thúc bằng sự chia tay”. Trong một tài liệu chuyên môn trước đây tôi đọc được cũng có tác giả nói ví von về người đồng tính ái ở tuổi trưởng thành giống như những người “mãi mãi là vị thành niên”, ít nhất là khi xem xét đến khả năng của họ trong việc xây dựng một gia đình theo kiểu “truyền thống”, được xã hội chấp nhận.

    Người đồng tính ái trong cuộc sống vẫn có thể phải đương đầu với những khó khăn và thách thức như bao nhiêu người khác trên đời. Tuy nhiên, do hoàn cảnh đặc thù của họ, nhất là khi có sự kỳ thị từ người khác hoặc sự tự kỳ thị từ phía bản thân, người đồng tính ái ít nhiều sẽ gặp khó khăn trong việc thiết lập những mối quan hệ thân tình, mật thiết với người khác, và điều đó làm giảm đi những nguồn lực hỗ trợ hiệu quả khi họ gặp vấn đề khó khăn trong công việc và cuộc sống.
    đọc đoạn này thấy đúng ghê :-< khéo tương lai sẽ là "sẽ trở thành một zai già độc thân sau khi đã trải qua nhiều mối tình mà phải kết thúc bằng sự chia tay" thật ^^!

    cơ mà cái ảnh minh họa ở phần 3 nhìn cool thật :X

+ Viết bài mới

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình
  •