+ Viết bài mới
Hiện kết quả từ 1 tới 4 của 4

Chủ đề: Tôi và Paul

  1. #1
    Guest

    Mặc định Tôi và Paul

    Phần 1


    (Cuộc điều tra thứ năm của Matt Silvain)

    Tác giả : Michael Gouda - Người dịch : Vũ Quốc


    "Đó là nơi tử thi được tìm thấy", Thám tử cảnh sát Parry nói. Anh ta chỉ con đường nhỏ trông không khác gì mọi con đường khác. Tôi cứ nghĩ mình sẽ nhìn thấy vệt phấn vẽ chung quanh xác chết tại hiện trường nhưng chẳng thấy gì cả.

    Đó là một con đường không có gì đặc biệt với những tòa nhà xây bằng gạch đỏ từ thời nữ hoàng Victoria cũng chẳng có gì đặc biệt hết, ngoại trừ vài khoảnh đất trống mà người ta đã phải dở những căn nhà ở đó. Lẩn khuất trong những bãi đất trống ấy là một dãy hàng rào gỗ rộng lớn có tấm biển ghi "Lennox and Winters. Chủ đầu tư". Trông vào đó người ta cũng biết rằng chủ nhân dự định xây lên những tòa nhà và căn hộ cao cấp mà việc xây dựng đòi hỏi phải có một khu vực lán trại hoặc nhà xưởng phụ trợ. Tôi có thể nghe âm thanh một chiếc máy khoan đằng sau nơi đó.

    "Chỉ ở ngay bên ngoài nhà riêng anh ấy", tôi nói, "Thật không may chút nào".
    Follow up:


    "Anh biết người đó à ?".

    Tôi gật đầu. "Vụ này cảnh sát nghĩ sao đây ?"

    Thám tử Parry nhìn tôi bằng ánh mắt sắc như dao.

    Lúc Parry và tôi lần đầu tiên gặp nhau cách đây mấy tháng là trong trường hợp tôi bị bắt vì tình nghi liên quan đến vụ giết người ở Hampstead Heath, ngay lúc đó tôi đoán chừng anh ta là gay. Anh ta tỏ ra chú ý nhiều tới vẻ bề ngoài của tôi. Có lẽ ánh mắt của anh ta còn rõ ràng hơn bất kỳ cử chỉ nào khác - nhưng lúc ấy tôi đã chứng minh sự vô tội của mình và đã tìm ra thủ phạm thực sự.

    Dĩ nhiên là Parry cũng không kiếm cách tỏ tình hay hò hẹn gì cả và điều này có thể khiến tôi cứ mãi nghi ngờ nếu như một lần vào buổi tối tình cờ chạm trán anh ta ở quán rượu West End dành cho giới đồng tính, lúc đó anh ta vẫn để tóc dài như lâu nay vẫn thế. Khó có thể nhận ra được khi anh ta trút ra khỏi người bộ đồng phục. Một viên thám tử cảnh sát trẻ, làm việc nghiêm túc, tướng tá bề ngoài hơi thấp nhưng chắc khỏe đang mặc một chiếc áo pull hở cổ, hợp với chiếc quần jeans đang mặc. Tôi biết chiếc áo hiệu Versace vì cái thương hiệu được đính lên tay áo bên trái. Kinh thật ! Cứ thử nghĩ một tay cớm lại có thể bỏ ra hơn 100 bảng anh cho một chiếc áo pull.

    Dù sao đi nữa thì anh ấy vẫn cứ diện bộ cánh ấy lắc lư theo dòng nhạc. Dĩ nhiên có môt dịp may hiếm có như vậy dễ gì tôi chịu bỏ qua, thừa lúc tay DJ giới thiệu bài nhạc khác, tôi bước tới gần và chào hỏi. Liệu rằng anh ấy có lúng túng không ? Thực tình thì không. Ngược lại là khác. "Chào anh, Matt Silvain", viên cảnh sát nói, "Tôi không ngờ chúng ta lại gặp nhau ở cái thế giới "ba rọi" này". Sau đó thì anh ta đến gần sờ nắn tôi một cách tự nhiên.

    Lúc này, nếu như bạn đã từng đọc những chương trước ắt là bạn biết rõ tôi có quan hệ với một thanh niên tên là Paul Massingham. Tình cảm hai chúng tôi cứ lên xuống thất thường, ý tôi nói là vào thời điểm này không phải là không mặn mà. Nhưng bạn cũng thừa biết, đàn ông vẫn cứ là đàn ông với quả tim cực kỳ rộng rãi, mà khi có một người đàn ông khác, nhưng không nhất thiết phải là người như Quasimodo (1), vuốt ve những phần nhạy cảm nhất của cơ thể bạn, liệu rằng bạn sẽ phản ứng thế nào đây. Chịu thôi chứ biết làm sao ! Vì vậy, chúng tôi khiêu vũ với nhau như một cặp tình tứ. Ted (Ted Parry là tên đầy đủ của anh ấy) cùng tôi đều tỏ ra cởi mở, và thân mật hết cỡ.

    Tình thật thì bạn cũng biết rồi đấy, chúng tôi đâu có đi từ A tới Z. Vấn đề là phải đi đâu để làm chuyện ấy. Anh ấy sống ở khu nhà tập thể sở cảnh sát, còn tôi thì rất ngại phải thú nhận rằng Paul đang có mặt ở nhà tôi rồi, vì vậy đêm ấy chúng tôi chẳng làm gì khác được ngoài sự mong đợi của Ted và tôi. Nhưng vấn đề là từ nay tôi có thể liên lạc với người của sở cảnh sát, đó là điều lâu nay tôi hằng mong ước, tất nhiên là vì công việc điều tra của mình.

    Hả ! Tôi từng nói đùa với ai bao giờ chưa ? Bạn cứ yên chí !

    Nhưng sau đó chúng tôi trở thành bạn bè và anh ấy bây giờ là người khi cần thông tin thì tôi có thể gọi điện nhờ giúp đỡ. Một công được hai ba chuyện, chẳng phải là "nhất tiễn hạ song điêu" hay sao ? Cũng giống như hôm nay với chuyện phát hiện tử thi trên đường, nhưng bây giờ cái xác ấy không còn nằm đó nữa.

    "Vậy về phía cảnh sát họ nghĩ gì vậy ?", tôi hỏi.

    Ted nói, "Một vụ đụng xe và tài xế bỏ chạy. Có lẽ là một vụ tại nạn và người gây tai nạn hoặc giả là quá sợ hãi hoặc giả là đã say xỉn nên không dừng lại và báo cáo vụ việc với nhà chức trách. Dù sao đi nữa chuyện này có làm anh quan tâm không ?".

    Tôi trả lời Ted.

    Số là đêm hôm trước, Paul đã gọi điện thoại cho tôi tại văn phòng, lúc đó tôi còn ngồi đợi điện thoại của khách hàng, Paul hỏi tôi có muốn gặp cậu ấy tại nhà người bạn hay không, đó là nhà của Peter Squires. Vấn đề rắc rối là công việc và Paul thừa hiểu tôi cần việc làm như thế nào. Bạn có thể nghĩ rằng thám tử tư là một nghề nghiệp hấp dẫn, thú vị. Nhưng sự thật không phải thế nếu như không có việc làm. Còn tôi đang đợi việc làm qua điện thoại. Một vụ làm ăn nhỏ nhưng không xa lắm.

    Squires sống tại một căn nhà gạch đỏ thời Victoria, nền cao ráo, theo tấm biển chạm khắc bên trên cánh cửa thì ngôi nhà này được xây dựng từ năm 1861. Đó là một tòa nhà đồ sộ được chăm sóc kỹ lưỡng, nhưng dù vậy mọi thứ đã trở nên cũ kỹ theo thời gian. Ít ra nó cũng trải qua nhiều cuộc chiến tranh, kể cả hai cuộc chiến tranh thế giới và chịu đựng sự tàn phá trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai. Tường gạch vài chỗ có vết rạn nứt, không quá lớn, nhưng đủ để chứng tỏ sự cần thiết phục chế nếu muốn giữ lại vẻ tráng lệ như trước đây. Trời hãy còn sớm, con đường Granby khúc khuỷu vắng vẻ mặc cho ánh nắng tràn ngập. Ngôi nhà gạch đỏ sừng sững như một đóa hoa nở rộ rực rỡ. Bỗng dưng tôi có một cái cảm giác xúc động vì con đường cổ kính này. Mặc cho những vết thương trên người, nó vẫn ngạo nghễ tồn tại với thời gian.

    Peter Squires mở cửa. Một chàng trai cao, gầy khỏng kheo. Cặp mắt kính trông ra dáng trí thức nghiêm túc. Trông dáng vẻ người này có vẻ già trước tuổi. Chỉ khi nghe giọng nói và sự nhiệt tình thì mới biết vẫn còn là trai tráng. Paul đã có mặt ở đó sẵn rồi, xuất hiện ngay sau lưng Squires và, như thường lệ, cái dáng vẻ người yêu của tôi tóc hung, thân thể cân đối, má ửng hồng, luôn nở nụ cười trên môi, khiến tim tôi rộn rã những cảm giác quen thuộc.

    "Vậy anh là Matt phải không ?", Squires nói, "Tôi được nghe nhắc nhiều về anh".

    "Chắc không phải là chuyện tốt chứ gì ?", tôi đáp với vẻ đùa cợt vốn dĩ của mình.

    "Vào đây, uống chút bia cái đã".

    Tôi bước vào trong, lúc đi vào tôi thò tay vỗ mông Paul một cái, cho dù có sự hiện diện của Squires. Chúng tôi ngồi trò chuyện trong khu vườn bé xíu bằng nắm tay ở đằng sau nhà, trong cảnh hoàng hôn.

    "Ở đây đẹp quá", tôi mở lời khen.

    "Ừm, nhưng chỉ đẹp cho tới lúc người ta giật sập nó xuống và xây lên những ngôi nhà mới hiện đại", Squires cay đắng nói.

    "Người ta định làm thế sao ?", tôi hỏi.

    Squires gật đầu.

    "Như vậy là anh phải bán căn nhà này ?", tôi hỏi tiếp.

    Squires thở dài, "Họ làm khó nên bán đâu có dễ", anh nói, "Trước tiên họ tỏ vẻ thân thiện, đưa ra một giá mua hấp dẫn, nhưng mà....", anh dừng lại, "nếu anh không muốn bán thì sẽ gặp rắc rối".

    "Chuyện gì chứ ?".

    Paul xen vào, "Ồ, tiếp tục đi Peter, đừng có lòng vòng nữa. Đó là những chuyện tồi tệ mà, Matt. Anh đừng hòng mà bước nổi một bước nếu đi về nhà khuya. Rác rưởi thì họ ném vào sân trước nhà anh, hòm thư thì họ nhét quần áo cháy đen vào đó. Không ai có thể chịu đựng nổi lâu hơn được nữa".

    "Và dĩ nhiên còn tiếng ồn không dứt nữa", Squires nói. Lúc anh im lặng, tôi có thể nghe được tiếng máy khoan đào ngoài đường. Không còn nghe được tiếng chim chóc hót trên cành cây, tiếng động cơ máy khoan đã chiến thắng. "Chúng tôi đã cố tập họp thành một nhóm, vì nghĩ rằng nếu "đông tay vỗ nên kêu", nhưng rồi họ cũng rút lui, giờ vỏn vẹn chỉ còn vai gia đình thôi, càng cô thế càng gặp nhiều khó khăn hơn".

    "Vậy cảnh sát đâu ?", theo thói quen tôi bật ngữa người ra thành ghế hỏi.

    Squires nhún vai, "Họ chỉ nói đó là chuyện vặt vảnh ở hàng ngày ở địa phương, mà anh thừa biết rồi đó. Còn tôi nghĩ rằng họ không muốn nhúng tay vào".

    Tôi nghĩ rằng mình cũng sẽ không muốn như họ. Chuyện này có vẻ như nếu có bất kỳ ai muốn tiếp cận thì ắt phải lãnh một hậu quả nghiêm trọng. "Anh có nghĩ những chuyện này ai đứng sau lưng giật dây không ?".

    "Tôi tin chắc đó là Arthur Lennox".

    "Tôi nghĩ rằng nên điều tra rõ ràng hẳn nói", tôi ngập ngừng nói. Paul liếc xéo tôi. Ánh mắt ấy tôi thường bắt gặp mỗi khi gặp sự việc gì mà tôi thiếu hăng hái.

    Từ cửa sau căn nhà, bỗng có một phụ nữ đi vào. Squires đứng dậy và hôn bà ta. Không phải là nụ hôn đam mê, giống như nụ hôn phớt của người chồng khi đi làm về nhà hôn vợ. Nhìn thấy vậy tôi rất đổi ngạc nhiên. Không hiểu sao tôi cứ đinh ninh rằng Pete Squires là dân đồng tính mới là chuyện lạ.

    "Đây là Lara", Squires trỏ vào tôi nói tiếp, "còn đây là Matt Silvain và P...".

    "Nhà Dixons đang dọn đi đó", người đàn bà nói, cái giọng nói hớt hải đầy kịch tính như sắp có chiến tranh thế giới lần thứ ba nổ ra.

    "Ôi, thật xui xẻo", Squires nói, "Tôi biết họ đang dao động nhưng hy vọng họ sẽ nghĩ lại". Anh quay sang tôi nói, "Gia đình họ sống ở nhà số 64", anh nói tiếp, "Hôm kia, có ai đó ném vỡ cửa sổ nhà họ. Còn bây giờ thì chuyện gì xảy ra nữa đây ?", anh quay sang Lara hỏi.

    "Đám con cái nhà họ trên đường đến trường bị đe dọa", người phụ nữ nói, "không bị thương tích gì nhưng cũng một phen vãi đái. Thế là nhà họ không chịu được nữa và chấp nhận lời đề nghị của Lennox. Gần đây họ lại giảm giá mua, một lũ khốn nạn !".

    "Hy vọng Matt sẽ ở đây giúp chúng ta".

    Lara nhìn tôi không nói gì. Tôi có thể nhận ra ngay biểu hiện trên nét mặt chị ta chứng tỏ rằng Lara chẳng thích tôi tí nào. Để phá tan sự im lặng nặng nề, tôi nói sẽ gọi điện hỏi thăm nhà Dixons và hứa sẽ quay lại ngày hôm sau. Sau đó tôi cùng Paul ra về. Tôi hiểu Paul đang nổi nóng với tôi. "Anh sao vậy ? Bộ anh không muốn giúp họ sao ?", Paul hỏi tôi.

    "Chuyện không dễ ăn đâu, Paul", tôi đáp, "Cái gì khiến em nghĩ rằng anh có thể tìm ra những điều mà cảnh sát không tìm ra được ?".

    "Họ ư, một chút cố gắng cũng không có. Còn anh, ít ra anh cũng đến gặp Peter, gặp nhà Dixons để tìm hiểu".

    Nhà số 64 nằm dọc theo con đường này, rất dễ xác định. Tất cả cửa sổ bằng kính đều bị vỡ toang. Cả nhà ùa ra ngoài xem một cặp thanh niên trẻ, rất khả nghi. Phải cân nhắc cẩn thận họ mới cho chúng tôi vào nhà, sau khi nghe tôi giải thích chúng tôi không phải là kẻ xấu và họ dò xét từng lời. Vâng, họ đã nhận lời, con trai họ là Shaun đã gặp phải sự cố trên đường tới trường sáng nay. Họ không kể chi tiết sự việc vì Shaun không kể gì nhiều cho cha mẹ nghe cả, chỉ đại khái là có một bọn trẻ con vây quanh nó bảo nó và gia đình "tốt hơn hết là hãy cuốn xéo nơi khác nếu biết điều".

    "Trẻ con ư ?", tôi hỏi. Tất nhiên, đúng như lời cảnh sát đã nói.

    "Đúng thế", bà Dixon nói, vẻ ưu tư lo lắng nhiều năm hằn lên những nếp nhăn trên gương mặt người đàn bà này. "Nhưng không phải lũ trẻ con ném đá qua cửa sổ".

    "Bà có thấy họ không ?", Paul hỏi.

    "Chỉ thấy bóng người", bà nói, "nhưng không phải là đám con nít".

    "Còn ông, ông nghĩ gì ?", tôi hỏi người chồng.

    "Lúc đó tôi không có mặt ở đó", ông chồng nói vắn tắt, "vì thế mới làm cả nhà hốt hoảng".

    "Ổ, sao thế này ?", Paul nói khi chúng tôi đi ra chỗ tối ngoài hiên nhà, phát hiện những mảnh vỡ bóng đèn rãi rác. Trời se lạnh, còn tôi chỉ muốn về nhà ngay, muốn đưa Paul cùng về với tôi. Bỗng dưng con đường tỏ ra đe doạ, những khúc quanh giữa dãy nhà tối om om ẩn chứa những mối nguy hiểm khôn lường.

    Tôi ngữi thấy mùi bánh mì xúc xích, mùi hành và mùi gà rán. Mùi xăng đốt chưa hết thải ra từ xe hơi và taxi khi dừng lại trước đèn đỏ trên góc đường Granby trước khi rẻ vào đại lộ. Bầu không khí cô đặc, mệt mỏi. Nhưng đó là bầu không khí ở Luân Đôn. Gần cuối tháng tám thì trời bắt đầu lạnh. Người ta có cảm giác là mùa hè đã qua lâu lắm rồi.

    Có một người trạc 25 hoặc lớn tuổi hơn một chút, xuất hiện từ cuối đường, đang thả bộ đi ngược chiều. Tôi thấy đó là một anh chàng gấy ốm, mặt mày u ám góc cạnh, trán vồ như chất chứa đầy phiền muộn, mắt nâu tối nhìn như đang có tâm sự gì đó. Người này chợt bắt gặp cái nhìn của tôi nên mỉm cười, có lẽ người này quen biết tôi cũng nên. Thoáng một cái, người ấy đã đi qua.

    Tôi ngoáy lại nhìn theo dáng người đàn ông khi người này đi vào chỗ tối giữa hai ngọn đèn đường, dáng người mảnh khảnh, cặp mông lắc lư theo bước đi trong chiếc quần jeans, sau đó thì rẽ vào một căn nhà sát đường.

    "Anh sẽ gặp lại người đó mà, lo gì", Paul nói. Giọng cậu ấy ngọt ngào; nhưng tôi nghĩ Paul chẳng vui vẻ gì.

    "Em có thấy người đó vào nhà ai không ?", tôi hỏi, "Khách của nhà Peter Squires đó".


    Chúng tôi về nhà ăn uống, tôi chỉ cân tắm rửa thay quần áo, còn Paul làm một số việc chuẩn bị cho ngày hôm sau. Vì vậy tôi quyết định đến nhà Paul ở. Dĩ nhiên, đây không chỉ là quyết định của riêng mình tôi. Cả hai chúng tôi đều có cùng ý định ấy để có thể tâm sự ban đêm. Thực ra chúng tôi đã nói chuyện hàng giờ trong nhiều đêm, sau khi làm tình với nhau. Chàng trai gối đầu lên cánh tay tôi thủ thỉ. Còn tôi thì biết rằng có là cái tôi ưa nhìn vào mỗi sáng sớm.

    Khi tôi bước ra ngoài, quay lại nhìn gian phòng khách nơi có hình dáng chàng trai tôi yêu đang miệt mài bên bàn làm việc. Chàng trai đang gõ lách tách trên bàn phím vi tính, và dòng suối chữ tuôn chảy trên màn hình. Tôi thầm ngưỡng mộ vóc dáng cân đối và mái tóc dài phủ gáy. Trong một chốc tôi ngẫn ngơ nhìn, hầu như chôn chân tại ngưỡng cửa ra vào. Tôi ngắm màu sơn nước trên tường mà tôi và Paul đã cùng lựa chọn, cái đèn trên bàn đang tỏa sáng màu vàng đỏ nhạt trên gò má xương xương của Paul. Tất cả những quang cảnh ấy làm tôi bồi hồi, không muốn rời khỏi nơi chốn thân yêu này.

    "Em không muốn đi cùng anh sao ?", tôi hỏi.

    "Phải làm xong việc này cho ngày mai", Paul đáp, "em có việc quan trọng phải làm". Paul làm việc cho một công ty quảng cáo, tôi để ý chỗ này lúc nào cũng hối thúc công việc. "Đừng về trễ, và nhớ đừng dính líu tới những người đàn ông xa lạ nghen", chàng trai quay sang tôi cười và nói.

    Tôi hứa, như đã từng hứa hẹn như thế !

    "Nếu anh về mà em còn ngủ, nhớ đánh thức em dậy".

    Tôi chạy xe xuống đường Granby có thể coi như đó là một cuộc chạy đua tốc hành, tới quán rượu ở cuối con đường. Tất nhiên đó không phải là cái quán rượu cổ lổ duy nhất, và dĩ nhiên cũng không quá đông khách.

    Một người đàn ông mập ú, càm ngắn nung núc mỡ đứng phục vụ sau quầy bar. Tôi độ chừng đó là người chủ quán. Dường như ông ta cũng là người thích hóng chuyện, như vậy lại càng hay.

    "Sự phát triển ở đây có làm ảnh hưởng gì đến chuyện làm ăn của ông không ?", tôi hỏi.

    "Không quá sớm như vậy đâu", người đàn ông vui vẻ trả lời, "Cứ nhìn tối nay thì rõ. Nếu người ta xây thêm mấy căn hộ khang trang, thì sau đó nhà máy bia sẽ đầu tư làm nơi này phất lên, sẽ thu hút được khách hàng".

    "Vậy ra ông không cùng nhóm trong cuộc vận động của Peter Squires sao ?".

    Người đàn ông sầm mặt, dè dặt nhìn tôi. "Tôi có thể hiểu anh ấy. Anh ấy không muốn đánh mất ngôi nhà của mình, nhưng trước sau gì thì anh cũng phải dọn đi mà thôi".

    "Ông nghĩ sao về những chuyện quấy nhiễu những chủ nhà còn ở lại ?".

    Một lần nữa, người đàn ông nhìn tôi bằng ánh mắt sắc lạnh. "Phóng đại chứ làm gì có", ông ta trả lời cụt lủn.

    "Giá mà Squires đến đây, tôi sẽ hỏi lại xem sao".

    "Anh là ai ? Phóng viên à ? Chúng tôi không thích mấy tờ báo quậy chuyện ở đây đâu".

    Tôi bảo đảm với ông ta rằng tôi không phải là phóng viên. "Tôi dự tính mua nhà gần đây. Nhưng cũng cần phải hiểu rõ tình hình địa phương mới dám mua chứ".

    Người đàn ông gật gù, tỏ ra đồng ý với lời nói dối của tôi. "Anh lỡ cơ hội mất rồi", người đàn ông nói tiếp, "Anh ấy vừa ở đây". Người đàn ông dừng lại cứ như đang cân nhắc có nên nói tiếp hay không, nhưng không may là cái tính nhiều chuyện đã thắng cuộc. Rõ ràng người này là một gã lắm mồm. "Anh ta vừa bị dần một trận", người đàn ông nói.

    Tôi làm bộ sợ hãi, "Đừng đánh tôi theo kiểu đó nghen", tôi nói.

    Người đàn ông nói với vẻ cứ như là ông ta hối tiếc vì sự việc đã xảy ra quá mức. "Ờ, không phải là cuộc ẩu đả thật sự. Chỉ tranh cãi hơi gay gắt thôi".

    "Chắc cũng là việc đầu tư phát triển nơi này chứ gì ?", tôi hỏi.


    Người đàn ông tiếp lời : "Anh ấy cãi cọ với Neil Winters."

    Khi thấy tôi không có chút phản ứng nào, người đàn ông nói thêm "Đó là một trong số những bạn bè của tôi".

    Tôi chợt nhớ ra cái cụm từ "Lennox và Winters". "Chuyện kết thúc thế nào ?", tôi hỏi

    "Squires chạy bổ ra ngoài, còn Winters thì đuổi theo".

    Và hôm sau thì Squires chết và tôi có mặt ở đây, cùng với viên thám tử cảnh sát mà tôi cảm mến, đang quan sát hiện trường không còn dấu vết, nơi chàng trai đã chết.

    "Thì ra anh theo đuổi việc này là muốn giúp anh ấy", Ted Parry nói.

    "Nhưng không may là đã quá muộn màng", tôi nói.

    "Anh phát hiện ra vụ này như thế nào ?"

    "Về cái chết của anh ta ư ? Khuya hôm qua, Lara Squires đã gọi điện tới".

    Tôi không kể cho anh chàng cảnh sát những chi tiết chính xác khác.

    Lúc tôi về đến nhà thì Paul đã lên giường rồi, đang nằm dài ở đó như thường lệ để tôi phải đánh thức dậy. Mái tóc hung lỏa xỏa và gương mặt hồn nhiên như trẻ thơ. Nhớ lời Paul dặn lúc rời nhà, tôi không cần phải phí sức rón rén đi vào, thế mà Paul vẫn ngủ say, chỉ làu bàu những gì vô nghĩa khi tôi quàng tay ôm chàng trai. Ánh đèn đường bên ngoài hắt vào phòng và tôi nghĩ giá mà mình kéo tấm rèm che lại thì hay biết mấy, nhưng tôi lại không muốn bò ra khỏi giường. Mặc dù tôi cảm nhận thân thể Paul đang cục cựa tựa sát vào người tôi, nhưng tôi chỉ muốn thư giãn và cố mà chợp mắt. Nhưng thân thể tôi lại rạo rực chẳng muốn ngủ yên.

    Tôi cố trở mình thay đổi thế nằm, nhưng vẫn thấy khó chịu.

    "Trời sáng rồi ư ?", tôi nghe tiếng thỏ thẻ của Paul.

    "Không đâu cưng", tôi hít cái mùi thơm dịu nơi mái tóc chàng trai, "Em bảo là sẽ thất vọng nếu anh không đánh thức em dậy".

    Paul rúc vào đôi tay tôi và quay sang nhìn tôi. Tôi hôn khẽ lên cánh mũi chàng trai rồi mỉm cười, sau đó thì tìm kiếm đôi môi khép hờ. "Bộ em còn thấy mệt hay sao ?".

    Dù còn ngái ngủ, nhưng Paul vẫn tươi cười ghé tai tôi nói nhỏ "Em không bao giờ biết mệt vì anh đâu. Làm cho em đi". Tôi lần tay xuống bên dưới mò mẫm khiến Paul rúc rích cười vì nhột. Tôi kéo Paul nằm ngữa và vuốt ve từ trên xuống đùi, mơn trớn từ dưới lên vùng hông, rồi lại quay người xuống dưới ở ngay giữa háng, bên trong giữa hai đùi, khu trung tâm cảm giác của cơ thể Paul.

    Không rời mắt khỏi Paul, tôi thấy chàng trai mắt khép hờ, nụ cười nở trên môi, tỏ ra thích thú với trò âu yếm của tôi, khúc dạo đầu ái ân lãng mạn. Tôi cúi xuống, cánh môi hé mở đặt những nụ hôn trên thịt da nóng bỏng của người tình cho tới khi đụng vào con cặc của Paul, tôi miết môi ép mạnh cặc Paul sát vào dái.

    Paul đưa tay vò vò mái tóc cắt ngắn trên đầu tôi, ưỡn đì ra trước vặn vẹo người. Nhưng tôi ngồi dậy quỳ giữa háng Paul và nâng chân chàng trai lên cao, trong cơn đam mê ngùn ngụt, tôi hôn dọc theo bắt chân lên đùi. Có lẽ không chỉ mình Paul cảm thụ được những nụ hôn ấy như thế nào, mà bản thân tôi cũng cảm thấy ngây ngất say đắm trong sóng tình dào dạt. Lúc này Paul mở mắt hẳn ra và thở gấp khi tôi ép môi vào bên dưới dái Paul, nơi cánh cửa địa đàng đang chờ đón. Lưỡi tôi rà quanh mép một lúc rồi ngược trở lên hai hòn bi và liếm dọc thân cặc trước khi ngoạm đầu khấc vào cái miệng háo hức, thèm khát của mình. Tôi rà lưỡi quanh mép khấc và liếm những giọt mặt từ đó tiết ra và sau cùng thì mút mạnh cặc Paul vào trong cổ họng.

    Tôi cảm nhận rằng Paul đang tê tái vì sướng, vì anh chàng rên ư ử không thành lời, cứ liên tục nẫy đì lên đòi hỏi. "Em không chịu nỗi nữa đâu, đụ em đi anh !".

    Tôi ngậm ngón tay trong miệng để làm ướt rồi đút vào lổ của Paul, tranh thủ với tay mở ngăn kéo lấy tuýp kem bôi trơn KY.

    Ngay cái lúc sắp sửa tận hưởng thú vui trần tục thì có tiếng chuông điện thoại reo vang.

    Vào giờ này trong đêm, nếu có ai gọi đến chỉ có nhầm số hoặc trường hợp khẩn cấp. Lúc đầu tôi làm ngơ nhưng tiếng chuông reo thúc giục khiến tôi phải bỏ dở công việc đang làm.

    "Bực thật !", tôi nói, "Đừng bỏ đi đâu nghen cưng".

    Paul vẫn lim dim không nói gì.

    Tôi bò ra khỏi giường trong lúc con cặc còn cứng ngắc, bước tới nghe điện thoại, "Vâng, tôi đây", tôi gấn như hét vào tai người bên kia đầu dây.

    Có giọng phụ nữ, nghe lạ hoắc, nói : "Có phải Paul đấy không ạ ? Paul Massingham phải không ?"


    "Ai đầu dây vậy ?", tôi hỏi, "Bà không biết bây giờ là giờ nào hay sao ?".

    "Tôi là Lara. Chị của Peter Squires. Nó chết rồi". Giọng nói lạnh tanh, không chút cảm xúc. Ngay lập tức cơn giận vì những đòi hỏi dục vọng bị phá bỉnh của tôi biến mất.

    "Ồ, xin lỗi chị Lara", tôi nói, "Matt Silvain đang ở đây. Có chuyện gì vậy. Chị có cần chúng tôi đến ngay không ?".

    Sáng hôm sau, Paul nói với tôi, "Lara là chị của anh ấy đó", một lời xác nhận không hơn.

    Tôi gật đầu không nói gì. Lúc mới gặp tôi cứ ngỡ Lara là vợ của Peter. Trời, tôi là thám tử kiểu gì vậy ? "Em nghĩ cái chết anh ấy có gì đáng nghi không ?".

    "Đằng sau việc đụng chết người rồi bỏ chạy, ý anh như vậy phải không ?".

    "Ừ, tối qua anh ấy vừa có chuyện cãi cọ với Neil Winters", tôi đáp.

    "Tôi có thể hình dung ngay là anh ấy lúc nào cũng tranh cãi với những người ủng hộ dự án phát triển. Họ đứng về phía những người mà anh ấy đang ra sức chống lại. Không lẽ vì vậy mà họ giết anh ấy ?".

    "Cái đó còn tùy thuộc vào mức độ họ ủng hộ dự án phát triển nhiều hay ít", tôi đáp.

    "Anh nói cứ y như nhà chức trách vậy".

    "Nhưng dù vậy, anh cũng đâu phải là cảnh sát".

    Paul phá ra cười.

    Thôi đùa giỡn, tôi nghiêm mặt nói, "Anh phải đi gặp chị Lara. Tối qua lúc nghe điện, anh có hứa với chị ấy sẽ đến".

    "Chắc là chị ấy buồn lắm".

    "Chứ còn gì nữa ?".

    "Sau vụ này mình kiếm gì uống chứ ?", Paul hỏi như thường lệ.

    "Hôm nay không làm việc sao ?".

    "Em nghỉ".

    "Vậy mình sẽ gặp nhau ở quán Granby Arms nhé".

  2. #2
    Guest

    Mặc định Re: Tôi và Paul

    Phần 2

    Tôi thu xếp để gặp Lara tại nhà Peter Squirel vào lúc 11 giờ. Khi đi qua cổng, dọc theo lối đi dẫn tới cửa trước, tôi nghe có tiếng đồng hồ gõ đều đặn. Trước khi kịp bấm chuông, thì Lara đã bước ra mở cửa đón tôi.

    Trông chị ấy sợ hãi lắm. Rõ ràng Lara mất ngủ vì có những vệt thâm quầng quanh mắt, tóc tai bù xù. Lara cũng không trang điểm gì, da trông khô và nhăn nheo. "Cuối cùng thì họ cũng làm chuyện đó", Lara nói to, trước khi tôi kịp nghĩ nên nói gì thì chị ấy nói tiếp, "lũ cảnh sát khốn kiếp chẳng thèm làm chuyện gì, một lũ sâu bọ".

    Tôi liếc ra sau nhìn thám tử cảnh sát Parry đang đứng ở vỉa hè đối diện. Có lẽ anh ấy cũng nghe rõ mồn một những lời ấy. Vì vậy Parry quay lưng bỏ đi.

    Chúng tôi vào nhà, "Cậu phải giúp tìm chứng cứ, chắc bọn chúng không thể xóa sạch hết dấu vết đâu".

    "Có người đến gặp Peter tối qua, người đó là ai vậy ?", tôi hỏi.

    Hình như Clara giật mình khi nghe hỏi vậy "Tôi đâu có biết. Nó bảo nó sẽ ở nhà, còn sau lúc anh về thì tôi cũng bỏ đi nên không có mặt ở đó".

    Tôi không hiểu sao mình lại cật vấn chuyện đó. Rõ ràng đó không phải chỉ là thuận miệng mà hỏi một cách "ngẫu nhiên". Chuyện xảy ra ngay sau đó, sau việc Peter tới quán rượu cãi nhau với Neil Winters và rồi, giận dữ bỏ về nhà. Mọi thứ tôi cần là muốn biết rõ bức tranh toàn cảnh của sự việc.

    "Chị có đoán được người đó là ai không ?", tôi hỏi, "tóc sẫm, ốm, chắc hơn 20 tuổi. Chúng tôi trông thấy người này khi ra về. Chắc chắn là người này đến đây".

    Lara nhún vai tỏ ý không biết gì.


    Thêm một câu hỏi nữa : "Peter là người như thế nào vậy chị ?", tôi hỏi, có lẽ là hơi nhạy cảm, "anh ấy có ghi nhật ký các cuộc hẹn gặp hàng ngày không ?".

    Người đàn bà cười đau khổ rồi mở cánh cửa nối với phòng khách, đưa tay chỉ một bàn giấy trên đó một trong các túi đựng giấy tờ hở miệng, giấy tờ bên trong lộn xộn. Chắc Peter không cẩu thả như vậy, tôi tin thế, loại người hay ghi lại nhật ký như anh ấy để sắp xếp các cuộc hẹn chắc chắn không có tính cách ấy.

    Tôi bước tới bàn. Có vài tờ nháp ghi hẹn gặp với nhóm dự án phát triển mà anh đang chống lại, những bản sao thư từ gởi đi và trả lời từ hội đồng thành phố, rồi những ghi chú về các biện pháp trả đũa Lennox and Winters. Riêng tư hơn một chút, tôi tìm thấy vài tờ giấy không ký tên nhưng chứng tỏ một mối quan hệ thân mật. Một tờ ghi : 'Lâu quá không gặp anh, có lẽ thứ năm được không". Nội dung không chỉ rõ ngày tháng nên không giúp gì nhiều. Nhìn nét chữ rắn rỏi, tôi bắt đầu nghi ngờ người đàn ông này.

    "Chị có biết ai gửi đến những thứ này không ?", tôi hỏi.

    Lara lắc đầu. "Nó không nói nhiều với tôi về cuộc sống riêng tư của nó", chị nói tiếp, "Chúng tôi chỉ hợp tác chống lại đám xây dựng độc ác kia thôi". Bà cầm khăn tay xỉ mũi. Hy vọng chị sẽ không vì xúc động mà không cho tôi vào đây nữa.

    "Tôi sẽ đi gặp họ", tôi nói.

    Vừa định ra về thì tôi chợt để ý thấy một lá thư hơi giống thư từ cơ quan trong cái đám bề bộn trên bàn. Tiêu đề thư ghi "Viện bảo tàng Anh Quốc". Tò mò, tôi xem thử. Thư không viết gì nhiều :

    Chào ông Squirel,
    Khám phá của ông rất thú vị. Chúng ta nên gặp nhau để trao đổi thêm.

    Cuối thư là chữ ký ngoằn nghèo. Dù vậy, hàng chữ in bên dưới vẫn ghi rõ tên Wallis B.Embury, Giáo sư khảo cổ học. Hẳn là tôi sẽ bỏ qua thư này nếu như không thấy bên cạnh có một từ viết nghuệch ngoạc - Eureka (ND : Tìm thấy rồi !).

    Tôi hỏi : "Có phải đây là chữ viết của Peter không ?".

    Lara gật đầu, dù chị lúc này trông như giật mình khi nghe hỏi đến.

    "Nó nói gì vậy chị ?".

    "Không có gì quan trọng cả", chị nói và túm lấy lá thư vò nát rồi ném vào sọt rác.

    "Lũ khốn nạn", chị nói khi tôi bước ra cửa trước.

    Nhưng việc đầu tiên tôi hứa là đi gặp Ted.

    Anh ngồi ở quầy bar, tự nhiên như ở nhà, tay đang cầm một ly cối lớn. Anh quay lại mỉm cười khi tôi bước vào và tôi nhận ra - không phải là lần đầu tiên - người đàn ông này trông thật hấp dẫn : một người đàn ông còn trẻ, có lẽ chỉ hơn tôi vài tuổi, tóc sẫm cắt ngắn, dựng đứng lên nhưng không phải vuốt gel, kiểu như bạn nhìn thấy là muốn lùa ngón tay qua mái tóc ấy. Trông bên ngoài có vẻ như là đàn ông trăm phần trăm, dễ thương. Mặc một bộ đồ thông thường, quần tậy rộng màu nhạt, áo sơ mi màu xanh trơn, bên ngoài khoác áo jacket da. Nụ cười làm lộ mấy chiếc răng khễnh nhưng không làm giảm giá trị của nụ cười. Tôi gọi một ly bia có nồng độ thật nhẹ.

    Người đàn ông mập mạp đứng sau quầy nói, "Tôi phải mời anh một chai bia mới được".

    "Tôi vừa nhận một cuộc gọi, xin lỗi cho phép tôi gọi nhờ điện thoại được không ?", tôi nói.

    Ông ta chỉ một lối đi ở giữa. Điện thoại được đặt sẳn có một khe nhỏ để nhét đồng 10 xu. Trên tường ngoằn nghèo những dòng chữ ghi nội dung tin hoặc số điện thoại. Tôi quay số gọi cho Viện bảo tàng Anh Quốc, và khi có một giọng nói trả lời rất lịch sự, thì tôi yêu cầu được gặp Giáo sư Wallis B. Embury.

    Tôi đinh ninh cái tên Wallis là tên đàn ông và khi nghe một giọng nữ người Mỹ trả lời thì tôi hết sức bất ngờ, ngẫu nhiên nhớ đến người đàn bà kết hôn với Edward VIII, là Wallis Simpson.

    "Xin chào bà", tôi nói và bắt đầu giải thích chuyện lá thư và cái chết của Peter Squirel.

    Giọng nói của người đàn bà tỏ ra thành thật chia buồn, "Tôi cũng đang định gặp anh ấy. Cái anh ấy vừa tìm thấy thật sự hấp dẫn".

    "Chính xác là cái gì, trong thơ bà không nói rõ lắm".

    Người đàn bà dường như rất nhiệt tình, "Hình như đối với anh đó chỉ là một quần thể đá cổ, nhưng tôi nghĩ đó là một mảnh cuối của một bức tượng, hay là một bó đuốc do Cauteus (?) cầm, mà nếu đúng như vậy đó có thể là cánh cửa lối vào đền thờ thần Mithras (2).

    Tôi nhẫn nại chờ đợi.

    "Một ngôi đền thờ thần Mithras. Hình như Squirel tìm thấy nó ở khu vực công trường xây dựng".

    "Chuyện ấy có gì quan trọng lắm không ?".

    "Nếu đúng như tôi nghĩ thì rất quan trọng".

    "Và sao nữa ...?"

    "Ồ, tất nhiên công trình xây dựng sẽ bị đình chỉ. Ít nhất là cho tới khi người ta thực hiện xong cuộc khai quật ở đó".

    "Chuyện đó làm được sao ?".

    "Ồ, còn tùy thuộc vào quá trình tìm kiếm, có thể kéo dài hàng năm trời hoặc lâu hơn nữa".

    "Eureka", tôi nghĩ thầm, cám ơn bà ta và ngắt máy.

    "Vậy anh thấy rồi đó", tôi nói với Ted, "nếu đó là sự thật thì Lennox và Winters tất phải từ bỏ dự án phát triển, ít nhất trong một tương lai không thể nào đoán trước được".

    Parry trông không tỏ ra mặn mà với chuyện này. Anh ngồi trên chiếc ghế lơ đãng nghe tôi nói.

    "Có lẽ họ sẽ phải mất lắm tiền cho chuyện này, họ không thể trì hoãn việc thi công trong một khoảng thời gian lâu dài được. Thế là họ giết anh ấy".

    Parry co gối chạm vào đùi tôi, như vô tình, nên tôi không để ý, nhưng rồi mối quan hệ bạn bè thân mật của hai chúng tôi có dịp ôn lại khi phần nhạy cảm sát đùi cọ vào gối Ted.

    "Nếu có hàng triệu cân đất cát phải đào bới thì điều đó có nghĩa họ có động cơ giết người".

    Gối của Parry tiếp tục cọ sát bên trong đùi tôi, đùi người này sát đùi người kia. Tôi tự hỏi có nên đặt tay lên đó không. Còn đang phân vân thì anh ấy giải quyết vấn đề mau chóng bằng cách đặt tay lên đùi tôi. Bàn tay nằm yên một lúc khoảng giữa gối và háng. Một cảm giác rần rần làm con cặc tôi nổi hứng. Tôi dang rộng chân một chút như một kiểu mời mọc.

    Người phụ trách quầy quay lại, tay xách mấy chai bia. "Xin lỗi để anh đợi lâu", người đàn ông nói. Ông ta khui một chai rồi hỏi, "có cần dùng ly không ?".

    Tôi lắc đầu. Parry vẫn không rời tay khỏi đùi tôi; thực tế thì nó đang dần dần bò lên cái khối u ở giữa háng. Tôi cầm chai nốc một ngụm. Parry vẫn đang mơn trớn, mò mẫm và kích thích làm con cặc tôi dài ra để chà xát nắn bóp. Nhờ ơn Chúa, người đứng quầy quay lưng đi xa dù không biết ông ấy có thấy phía bên dưới quầy không và không biết khách khứa đến quán ngồi từ xa có thấy chuyện Parry làm với tôi hay không.

    "Ted này", tôi lên tiếng, "bộ anh không nhúng tay vào chuyện này hay sao ?".

    "Không phải việc của tôi, tôi được nghỉ", Ted đáp rồi cười dâm dật. "Chiều nay có ai ở nhà không ?".

    "Không có", tôi đáp mà chẳng cần phải nghĩ ngợi gì.

    Chàng trai nhìn tôi, tay vẫn sờ cặc tôi qua lớp vải mân mê nơi đầu khấc, làm tôi phát run lên. Phải, có lẽ bạn đã biết rồi đó, tôi đã từng kể chuyện về Paul và tôi, về sự tin tưởng cũng như sự tôn trọng, lẫn yêu thương ! Ồ, sao tôi lại nói chữ "yêu" ở đây nhỉ ? Té ra nãy giờ mình không nhớ gì hết, nhưng mà...

    "Tôi có cuộc hẹn gặp Neil Winters", tôi nói dối, "cho dù anh được nghỉ, nhưng tôi thì không rảnh lắm". Đó là một cách thoát thân dễ dàng, một lối thoát hèn nhát, bởi lẽ nó còn hứa hẹn lần gặp lại trong tương lai. Lẽ ra tôi nên nói như thế này, 'Xin lỗi, Ted, Paul và tôi quan hệ đặc biệt lắm. Dù rất thích anh, dù rất ngưỡng mộ anh, nhưng tôi không được phép làm thế". Tôi có nên nói thế không ? Có hay không !
    Chúng tôi vẫn vui vẻ chia tay nhau dẫu rằng anh chàng có hơi thất vọng. Tôi cũng thế, có thất vọng chút chút.

    Bây giờ tôi lần theo Neil Winters, trước tiên gọi điện thoại cho ông ta tại xưởng và người ta trả lời rằng ông Winters không có mặt ở đó. Sau đó tôi tra địa chỉ trong danh bạ điện thoại và đi tìm may ra gặp ông ta đâu đó.

    Căn nhà của Winters thì tương phản với nhà Peter Squires. Đó là một căn nhà thời Nhiếp chính thanh lịch có một khu vườn trước nhà thật rộng, được chăm sóc cẩn thận. Cửa trước đặt bên dưới một mái đón cổ điển. Trên lầu có 5 cái cửa sổ. Tôi bấm chuông. Tôi đợi một lúc nhưng không thấy ai trả lời. Tôi cố thử lần nữa, may mắn thay có tiếng người trong nhà vọng ra.

    Cửa mở, người thanh niên ra mở cửa chính là người đến nhà Squires mà tôi đã trông thấy tối qua. Nếu Lara trông khó coi cỡ nào thì người thanh niên này càng xấu xí gấp bội. Gương mặt người thanh niên xương xẩu giống như bị tạt acid làm mất hết da thịt. Người này râu rìa chưa cạo, còn sơ mi nhàu nát cứ như là anh ta để nguyên áo sống như vậy mà ngủ. Hai hố mắt thâm quầng chẳng khác người mất ngủ.

    "Ông là Neil Winters?", tôi hỏi.

    "Vâng", người thanh niên dè dặt đáp, nhưng trong giọng nói không biểu lộ chút xúc cảm nào. Dù đang nhìn tôi, hay ít ra lúc này ánh mắt hướng về tôi, nhưng thực ra anh ta chẳng có vẻ gì đang nhìn tôi cả. Tất nhiên người thanh niên không nhận ra là tôi đã biết anh ta trước đó. Cặp mắt lơ đãng không hồn. Nhìn thấy vậy tôi tự hỏi không biết người này có xỉn hay không.

    "Anh không sao đấy chứ ?", tôi hỏi, một câu hỏi ngu ngốc bởi vì rõ ràng chàng thanh niên này đâu có hơi rượu, nhưng đó cũng là một cách bắt chuyện.

    Người thanh niên bước tới có vẻ nặng nề. "Xin lỗi ông", anh ta nói, "Tôi có chuyện không vui. Ông cần gì ?".

    "Tôi cần nói chuyện về Peter Squires", tôi đáp.

    Người thanh niên giật mình, với tay chịu vào cánh cửa, người rũ xuống như một cây thịt bị đốn ngã. Một dấu hiệu phạm tội, tôi thầm đoán.

    "Anh ấy chết rồi", người thanh niên nói trong tiếng nức nở, ngắt quãng. Sâu thẳm trong lòng tôi bảo rằng tôi đã nhận định sai lầm về anh chàng này. "Anh ấy vừa qua đời, còn tôi sẽ không thể nào gặp lại anh ấy nữa rồi".

    "Bình tĩnh nào. Tôi rất tiếc phải nhắc chuyện này nhưng tôi có chuyện phải nói với anh. Chuyện rất quan trọng". Dù sao, những lời tôi cũng có tác dụng. Người thanh niên gượng dậy nhường lối cho tôi vào nhà.

    Chàng trai nặng nề gieo mình xuống chiếc ghế bành. Nhìn quanh quan sát, đồ đạc bày biện trong nhà đúng như điều mẹ tôi thường nói là "không có bàn tay đàn bà". Nhiều thứ phải phủ vải không để bụi bám.

    Tôi hỏi : "Ông sống một mình ở đây phải không ông Winters ?".

    Người thanh niên ngần ngừ nhìn tôi như cân nhắc xem điều đó có phải là việc của tôi cần tìm hiểu hay không rồi nói, "Vợ tôi bỏ đi rồi, chúng tôi khác biệt nhau quá xa".

    "Tối qua ông có gặp Peter Squires chứ ?".

    "Tối qua", người thanh niên lập lại cứ như là anh ta không tin đó là một thời gian cách đây không lâu.

    "Sau đó ông cãi nhau với anh ấy trong quán rượu...".

    Người thanh niên gật đầu. "Anh là ai ?", người thanh niên hỏi tôi.

    "Tôi là Matt Silvain, thám tử tư. Bà Lara Squires đã yêu cầu tôi điều tra cái chết của Peter".

    "Lara sao ? Hẳn là bà ấy điên rồi. Bà ấy có bao giờ tán thành chuyện tôi và Peter đâu".

    Điều chàng trai vừa nói làm tôi sững sốt. Lara từng nói rằng chị không biết tí gì về cuộc sống riêng tư của Peter. Tôi không hiểu tại sao chị ấy lại nói dối như thế.

    Tôi lặng đi một chút rồi đột ngột hỏi, "Ông có giết anh ấy không ?".

    "Giết anh ấy ư ? Tôi có giết anh ấy không ư ? Tất nhiên là không rồi. Tôi yêu anh ấy mà. Tôi vẫn còn yêu anh ấy tha thiết mà. Đó chính là lý do vợ tôi bỏ nhà đi. Chúng tôi, tức Peter và tôi, còn định sống chung với nhau nữa kìa...". Người thanh niên nghẹn ngào không nói được nữa.

    Tôi ghét nhất là nhìn thấy đàn ông khóc lóc, tôi cảm thấy thương hại chàng trai, nhưng vì lý do nào đó mà tôi không ôm chầm lấy chàng trai để tỏ thái độ cảm thông, mà chỉ ngồi im trên ghế chờ chàng trai thôi khóc.

    Tôi chắc rằng chàng trai cũng ngượng không kém gì tôi. Chàng trai nói "Xin lỗi anh".

    "Không sao, tôi hiểu mà", tôi đáp.

    Người thanh niên rót rượu mời tôi, nhưng tôi lắc đầu, lúc này là 10 giờ 30 sáng vẫn còn sớm. Ly rượu có lẽ làm cho người thanh niên bình tĩnh lại.

    "Ông có thể tiếp tục câu chuyện khi nãy được không ?", tôi hỏi, "Hai người cãi nhau về chuyện gì vậy ?"

    "Chắc ông đã biết về dự án phát triển ở khu vực này ? Nói cho cùng thì nó là một trò bẩn thỉu của Arthur Lennox. Nhưng rất tiếc là tôi đã tán thành dự án, nhưng vật tư đã mua rồi nên việc xây dựng phải bắt đầu tiến hành. Tiền của chúng tôi đều đổ vào dự án này. Tất nhiên là chỉ sau khi gặp Peter thì tôi mới thấy chuyện trở nên tồi tệ hơn. Peter muốn tôi tách khỏi nhóm của Lennox nhưng quả thật khó quá, thế là tối qua Peter đã nổi giận đùng đùng. Nhưng chúng tôi cũng đã tạm thu xếp ổn thỏa sau khi rời quán rượu.

    "Còn chuyện di chỉ khảo cổ đền thờ thần Mithras thì sao ?".

    Người thanh niên tỏ ra bối rối.

    "Những phế tích thời La Mã đó !"

    "Tôi không biết gì về chúng. Peter chưa từng nói điều gì về những phế tích La Mã nào cả".

    Những giả thuyết của tôi ngầm tính trước hẳn là sai bét. Rõ ràng Neil rất đau khổ trước cái chết của Peter thì không thể nào là kẻ sát hại anh ấy được. Có lẽ đây chỉ là một vụ đụng xe bỏ chạy như phỏng đoán của Parry nên không cần phải điều tra gì thêm.

    Nghĩ rằng mình không còn việc gì để làm nên tôi gọi điện cho Paul.

    "Chào cưng", tôi xưng hô thân mật vì biết chắc đang ở nhà một mình.

    "Chào Matt", Paul nói với giọng khách sáo, "Em giúp được gì cho anh đây ?".

    "Anh giúp được gì cho em đây ?", tôi nhại lại câu nói ấy, "Trước hết, em hãy cởi quần dài để anh thò tay vào khu trung tâm. A... tìm thấy thứ gì mềm mềm mà nóng hổi ở đây rồi. Để anh chơi với nó một chút chừng nào mà..."

    "Lúc này em bận quá. Chuyện đó để sau đi".

    "Sờ một chút cũng không được sao !", tôi nói.

    "E rằng không được. Lúc này thì bất tiện lắm. Chính xác là anh cần gì nào ?".

    Tôi thấy thương hại cho Paul nên lựa lời kể về chuyện Neil và Peter, và về chuyện khám phá đền thờ thời La Mã.

    "Cả những người trong dự án đó không biết gì sao ?"

    "Hình như là không".

    "Vậy bây giờ anh định làm gì nào ?".

    "Để anh suy nghĩ đã. Em có về nhà sớm không ?".

    "Trời ơi, bận lắm, bận dữ lắm", Paul nói, "Chắc là em về muộn thôi".

    Tôi la lên : "Nhưng anh cần em mà".

    "Để sau đi", Paul nói. Trước khi tôi kịp hôn gió lên ống nghe thì Paul đã cúp máy.

    Như chờ đâu sẵn, ngay lúc đó có tiếng chuông điện thoại reo lên.

    "Hello", tôi nói.

    "Phải anh là Matt đó không ?".

    Một giọng đàn ông, không là thanh niên mới đúng, vì nghe giọng còn trẻ. Nhất thời tôi chưa nhận ra là ai.

    "Xin lỗi, ai vậy ?".

    "Ted đây, Ted Parry. Tôi tới chỗ anh được không ?".

    "Anh muốn gì đây ?", tôi nói một cách khiếm nhã nhưng tôi nghĩ ở nhà một mình với Ted không phải là điều hay ho gì. Có lẽ tôi có thể gặp anh ấy ở một quán rượi nào đó thì nên hơn.

    "Tôi chỉ muốn nghe anh kể chuyện đi gặp Neil Winters mà thôi".

    "Tôi nhớ anh được nghỉ phép mà", tôi nói.

    "Theo tôi, mình sẽ gặp nhau ở văn phòng làm việc của anh. Vậy nghen !"

    "OK", tôi đáp, "Lúc nào anh ghé qua vậy ?"

    Ted ngập ngừng, "Thực ra thì tôi đang ở ngoài này. Ở buồng điện thoại công cộng đối diện đây này".

    Tôi nhìn qua cửa sổ và thấy anh ta đứng trong buồn điện thoại. Parry cười thật tươi, tay đang cầm một cái túi nhựa. Parry đến còn mang theo một hộp bánh pizza và một hộp bia nhẹ 6 lon. Chúng tôi ăn uống thỏa thuê, vị bia làm mát lạnh nơi cổ.

    Sau khi ăn hết cái bánh pizza, Ted ngồi tựa lên thành sô pha trông không thoải mái lắm. Sau đó thì anh đứng dậy tợp thêm ngụm bia từ lon thứ hai, rồi đi loanh quanh trong phòng. Tôi tự hỏi không biết anh chàng này có muốn leo lên người mình hay không và nếu như vậy không biết rằng tôi có chịu hay chăng, nhất là trong không khí lãng mạn như vầy. Nhưng đi được một đổi thì Ted chợt hỏi.

    "Đây là Paul phải không ?", Ted hỏi. Chúa ơi, người đi đâu vậy ? Sao để Paul về sớm như thế ? Tôi giật mình, nhưng may thay Ted chỉ vào bức hình của Paul.

    Tôi ngẫn người, nhưng rồi chợt thấy Ted nhìn trân trối với ý đợi câu trả lời. Tôi nhận ngay ra mình chưa có sẳn câu trả lời thích hợp, "À vâng, tôi quên bẳng. Anh chưa gặp Paul lần nào, nhưng có lẽ anh nên gặp. Ai nhìn thấy cậu ấy đều mến cả".

    "Anh ấy rất quan trọng đối với anh, phải vậy không ?".

    Cho tới lúc này, cuộc đời tôi đã trải qua nhiều tình huống vui buồn, đến rồi lại đi, những người đàn ông đến và đi qua đời tôi, hết người này đến người khác. Nhưng câu hỏi của Ted đã thức tỉnh tôi, tôi nhận ra rằng Paul thật sự quan trọng, quan trọng đến mức tôi vứt cả thói quen nói dối. Tốt hơn là coi Ted như một người bạn, biết đâu cũng có ích.

    "Vâng, tôi cũng nghĩ thế", tôi trả lời ngắn gọn và khoảnh khắc im lặng đến ngay sau đó.

    Để chuyển đề tài, tôi kể cho Ted nghe về cuộc gặp gỡ với Neil Winters, về mối quan hệ giữa anh ấy với Peter, hầu như kể hết. Ted cũng kể tôi nghe về vụ tai nạn, không có gì nhiều để kể lể. Peter bị một chiếc xe đụng trúng. Có vài mảnh kính đèn trước bị vỡ và vệt sơn xanh lá dính trên cái cúc áo jacket bằng kim loại của Peter.

    "Sơn xanh sao ?".

    "Có lẽ đó là sơn từ chiếc xe đụng anh ấy. Nhưng không phải là màu xanh thông thường, đó là một loại sơn bây giờ người ta không còn sản xuất ra nữa. Người ta nói đó là màu sơn của một chiếc Volvo đời cũ".

    "Phải rồi", tôi nói, "có nó các anh có thể báo các trạm kiểm soát được mà", tôi nói mà cảm thấy buồn. Hình như là cái chết của Squires chỉ là một vụ tai nạn bỏ chạy như cảnh sát đã nghĩ, do một thằng khốn nốc quá nhiều rượu trên đường lái xe về nhà gây ra.

    "Vậy anh định làm gì bây giờ ?".

    "Tôi nghĩ, chắc là phải gặp để kể lại chuyện này cho chị Lara nghe. Chị ấy có quyền được biết.

    Đường Grandby, khi tôi rẽ vào một góc đường gần quán Granby Arms, thì gặp một gương mặt khá quen thuộc -cho dù tôi chỉ mới gặp lần đầu ngày hôm qua. Người chủ quán rượu tỏ ra thất vọng vì sẽ không có gì thay đổi nơi quán ông để hút khách. Tội nghiệp Peter, con đường phố cổ giờ này đã được an toàn nhưng anh không được tận mắt chứng kiến sự tồn tại của nó. Còn Lara, dù rằng...

    Tôi thắng gấp khi vô tình để ý thấy một việc khi đi ngang qua chỗ để xe quán Granby Arms. Người lái xe phía sau xe tôi nhận kèn inh ỏi và đưa nắm đấm nhứ nhứ vào tôi. "Xin lỗi ông", tôi nói.

    Tôi đánh xe vòng lại chạy vào bãi đỗ. Vâng, tôi đã đoán đúng. Đậu ở đây là một chiếc xe màu xanh lá và khi tôi bước ra ngoài nhìn kỹ, thì thấy đầu xe bị móp méo.

    "Lại đóng cửa nữa rồi", một người đàn ông có tuổi đang đứng nơi cửa quán rượu nói, "Họ nói sẽ mở cửa suốt ngày, nhưng sao cái quán này lại đóng cửa".

    Tôi có thể hiểu điều đó. Người chủ quán nản lòng không muốn mở cửa làm ăn vì quá ế ẩm.

    "Không biết bác có biết cái xe kia không nhỉ ?", tôi hỏi.

    Ông già liếc mắt nhìn chiếc Volvo một lúc cứ như là lần đầu tiên ông mới nhìn thấy nó. Có lẽ là thế. Sau đó, ông già gật gù nói, "Cái đó của anh chàng Peter Squires trẻ tuổi kia mà", ông nói tiếp, "tội nghiệp thằng bé, nó chết mất rồi".

    Hình như nghe chẳng lọt tai chút nào. Squires bị đụng phải bởi chiếc xe của chính mình.

    "Nhưng sáng nay cháu đâu có thấy nó", tôi nói.

    "Ừm, không có", ông già nói, "chị nó lái tới đó chứ. Chắc là chị nó ở nhà nó nên để xe ở đây. Đậu xe ngoài đường nguy hiểm lắm. Không biết cậu có tin không, chỉ đậu một lát, khi quay lại thì chẳng còn cái bánh nào". Ông già cười hềnh hệch, ra chiều đắc ý lắm.

    "Chị Lara", tôi nói, "rõ ràng là chị thừa biết mối quan hệ giữa Peter với Neil Winters mà".

    Hai người chúng tôi ngồi giữa phòng khách, nhìn ra đường. Hay ít nhất là tôi đang ngồi còn Lara thì loay hoay tìm việc để làm. Người phụ nữ này ngồi lên thành ghế bành, sau đó nhổm dậy nhặt một quyển sách hay vật gì đó rồi bỏ vào thùng giấy cứng sắp dọc theo đó. Dường như chị ấy khó mà ngồi yên được. Trông sáng nay chị ấy có vẻ hơi quẫn trí.

    "Giữa hai người đó chẳng có gì cả", chị nói, "Peter không thích chuyện đó đâu. Mà nếu như nó thích, thì nó chẳng thèm để mắt tới Winters".

    Người phụ nữ không để lộ ra cảm xúc trong lời nói của mình, tôi nhận thấy như thế, nhưng tôi có thể nhìn thấu được cảm nhận của chị khi nghĩ về Neil và Peter - dám ngủ với kẻ thù của mình, trong một hoàn cảnh khó có thể chấp nhận được.

    "Sáng nay tôi có gặp anh ta", tôi nói, "Anh ta không làm gì hại Peter cả. Anh ta yêu Peter. Hai người còn định sống chung với nhau nữa".

    Lara phủi tay như muốn xóa bỏ hết mọi thứ trong đầu mình. "Nếu vậy thì thằng Lennox làm chuyện đó", chị nói tiếp, "Nó sẽ làm bất cứ chuyện gì để công trình có thể khởi công. Nó không thể chịu đựng chi phí kéo dài để cho mấy ông khảo cổ đào bới".

    "Ông ấy cũng chẳng biết gì về chuyện đó", tôi nói, "cũng giống như sáng nay chị cũng không biết rằng tôi đã đọc lá thư gửi đến từ Giáo sư Embusy".

    "Nhà có chuyện nên tôi bối rối quá", Lara nói, nhưng rồi lại cao giọng, "Nhưng tất nhiên ông ta hẳn phải biết chuyện đó. Ông ta vốn đã muốn ngăn không cho Peter phá hoại kia mà".

    "Nhưng chuyện đâu có nằm trong tầm tay của Peter", tôi điềm nhiên nói, "Viện bảo tàng biết chuyện đó, họ mới là người có quyền. Giết Peter cũng đâu có ngăn được cuộc nghiên cứu khai quật của họ".

    "Nhưng chính họ làm đấy".

    Tôi hờ hững nói : "Lẽ nào Peter bị đụng bởi chiếc xe của chính mình".

    Lara biến sắc. Biểu hiện cảm xúc của Lara mà trước kia tôi nghĩ là suy sụp vì đau khổ, bây giờ tôi lại thấy đó là dấu hiệu phạm tội. Chị ấy liếc nhìn tôi, gương mặt lộ vẻ tuyệt vọng.

    "Làm sao cậu biết chuyện đó ?", Lara hỏi.

    "Cảnh sát tìm thấy những mảnh kính đèn xe bị vỡ, rồi cả lớp sơn chiếc Volvo dính trên cúc áo của Peter".

    Lara chỉ biết gào lên : "Ôi trời ơi".

    "Tốt hơn hết, chị hãy kể mọi việc cho tôi nghe đi", tôi nói.

    Thế là câu chuyện phơi bày. Tối qua khi nghe Neil gọi, Peter ra ngoài với Neil và Lara tới quán rượu. Chủ quán không để ý tới Lara và tôi, tất nhiên, cũng không có lý do gì cật vấn về chị ấy. Sau đó cuộc cãi vã bùng nổ, hai người cùng chạy ra ngoài quán. Lara cũng ra theo tìm thấy hai người đang âu yếm trong bãi đỗ xe. Thấy chướng mắt, và sau khi Neil ra về, thì Lara muợn xe về nhà, bỏ Peter xuống đường trước nhà anh ấy. Khi Peter rời khỏi xe bước tới trước đầu xe định mở cổng. Trong lúc còn chưa hết bực tức, chị vô tình đạp chân ga, chiếc xe trờ tới đụng phải Peter trước khi anh kịp bước lên lề đường.

    Tất nhiên Lara hết sức hoảng sợ, nhưng là người có máu lạnh mà sự việc đã rồi, đồng thời chị cũng nhận ra Peter đã chết nên chị nảy ra ý nghĩ biến vụ này thành một vụ tai nạn và trút hết tội lỗi lên bọn người đầu tư dự án phát triển kia. Đó là một kế hoạch ngu ngốc, trong lúc tuyệt vọng và sợ bị phát hiện.

    Tôi không biết người ta sẽ kết tội chị như thế nào nhưng rõ ràng là cảnh sát phải biết được chuyện này. Tôi gọi điện cho Ted.

    "Chào cưng", tôi thì thầm khi vào nhà, lúc ấy Paul đang ngồi trên sô pha, "Hôm nay làm việc thế nào rồi ?".

    "Cũng tốt", chàng trai đáp, duỗi chân dài ra và mở rộng, mời mọc thứ tôi đang cần. "Bây giờ thì anh có thể làm mọi chuyện mà anh nói sáng nay trên điện thoại".

    Nhưng lúc ấy, tôi chẳng muốn làm gì, chẳng muốn nói gì, chỉ ngồi bên cạnh ôm chàng trai vào lòng một lúc. Sau đó, tôi mới kể mọi chuyện về vụ Peter. Còn sau đó nữa thì chắc các bạn cũng đoán được chúng tôi sẽ làm gì rồi, phải không ?

    Lời kết :

    Một hai tháng sau đó, Paul cùng tôi có dịp ghé thăm Viện bảo tàng Anh Quốc. Tôi không còn tới đây khi đã lớn, còn Paul chưa từng đến bao giờ. Tôi nghĩ rằng có thêm một số di chỉ đền thờ thần Mithras nên chúng tôi tới xem. Ở phía đối diện quãng trường Russel, chúng tôi đi qua nhiều cửa hiệu buôn bán những thứ đồ cổ quý hiếm, những đồng tiền La Mã, những mảnh tượng Ai Cập. Chúng tôi lang thang mua sắm, có chỗ giá bán cũng không đắt.

    "Mình mua một đồng La Mã làm kỷ niệm đi", Paul gợi ý.

    Chúng tôi bước vào cửa hiệu. Đây là một trong những cửa hiệu vẫn còn giữ lại được kiểu dáng kiến trúc từ thời nữ hoàng Victoria. Có cái mùi cổ vật, giống như mùi ở những nhà thờ cổ lổ, và tất nhiên cũng có nhiều món được trưng bày trong tủ kính, nhiều thứ nằm rãi rác trong hộp đựng chung với những món có giá trị như hồng ngọc, quý kim. Tôi cầm một viên đá có hình dạng kỳ lạ. Tôi cố lúc lắc xem thử.

    "Đó là một mảnh của ngọn đuốc", có tiếng người nói, một cụ già lưng khòm ăn mặc theo lối cổ từ bóng tối bước ra, "thứ này người ta tìm thấy trong một cuộc khai quật di chỉ La Mã ở Ostia. Chúng tôi cho rằng ngọn đuốc được Cautes hay Cautopates cầm, là người biểu trưng cho ngày và đêm và ...

    "...đứng gác truớc cổng ra vào đền thần Mithras.", tôi nói luôn cho trọn câu.

    "Phải đấy", ông cụ vừa nói vừa mỉm cười thân mật, ông vẫn còn muốn chuyện trò. "Tôi đã để dành cho một người, người này hứa sẽ trở lại mua. Anh ta cũng có một mảnh như vậy, nhưng rất tiếc người này không hề quay lại".

    Bỗng dưng tôi thấy nhồn nhột sống lưng. Tôi nói, "Chắc là người này không cho biết tên ?".

    "Tôi lúc nào cũng ghi lại thông tin khách hàng. Đợi một chút để tôi xem lại". Ông cụ lục tìm trong một quyển sổ cái viết tay, trông cuốn sổ cũng già cỗi như ông lão. Xem xong, ông ngước lên nói.

    "Đây này, Squires, đúng rồi, Peter Squires".


    HẾT


    (1) Quasimodo : là một điển hình và là một nhân vật phản diện của quyển tiểu thuyết Thằng gù Nhà thờ Đức Bà (The Hunchback of Notre Dame) xuất bản năm 1831 (Notre Dame de Paris bằng tiếng Pháp) của Victor Hugo. Được sinh ra trong hình dạng cực kỳ xấu xí, kể cả cục bướu trên lưng, được cha phó Claude Frollo tìm thấy bị bỏ rơi trước cửa nhà thờ Đức Bà vào cái ngày Quasimodo (tên này có được sau khi người ta đặt tên cho nó), ông nhận nuôi thằng bé và mang lên tháp chuông nhà thờ Đức Bà Paris. Anh gù Quasimodo sống trốn tránh trong nhà thờ đã phải lòng nàng Melody. Anh đã dũng cảm đương đầu với tên chỉ huy cận vệ hiểm ác để cứu Melody, người bị hắn tố cáo là phù thủy khi nàng từ chối tình yêu của hắn.

    (2) Mithras : (theo MSN Encarta / Babylon / Wykipedia English) Mithras là vị thần Mặt trời của người Ba Tư, biểu trưng cho ánh sáng, sự chân thật và những điều tốt đẹp. Vị thần này thường hóa thân dưới dạng bò thiêng. Đây là một thứ tín ngưỡng người Ba Tư thờ thần Mithras. Tín ngưỡng này trở nên khá phổ biến vào khoảng thế kỷ thứ 2, thứ 1 trước công nguyên ở khu vực Địa Trung Hải, trong thời kỳ đế chế La Mã, nhất là trong quân đội La Mã.
    __________________

  3. #3
    Tham gia ngày
    Feb 2009
    Bài gửi
    2.092
    Thanks
    0
    Thanked 49 Times in 34 Posts
    Năng lực viết bài
    480

    Mặc định Re: Tôi và Paul

    Phần 1


    (Cuộc điều tra thứ năm của Matt Silvain)


    Tác giả : Michael Gouda - Người dịch : Vũ Quốc



    "Đó là nơi tử thi được tìm thấy", Thám tử cảnh sát Parry nói. Anh ta chỉ con đường nhỏ trông không khác gì mọi con đường khác. Tôi cứ nghĩ mình sẽ nhìn thấy vệt phấn vẽ chung quanh xác chết tại hiện trường nhưng chẳng thấy gì cả.

    Đó là một con đường không có gì đặc biệt với những tòa nhà xây bằng gạch đỏ từ thời nữ hoàng Victoria cũng chẳng có gì đặc biệt hết, ngoại trừ vài khoảnh đất trống mà người ta đã phải dở những căn nhà ở đó. Lẩn khuất trong những bãi đất trống ấy là một dãy hàng rào gỗ rộng lớn có tấm biển ghi "Lennox and Winters. Chủ đầu tư". Trông vào đó người ta cũng biết rằng chủ nhân dự định xây lên những tòa nhà và căn hộ cao cấp mà việc xây dựng đòi hỏi phải có một khu vực lán trại hoặc nhà xưởng phụ trợ. Tôi có thể nghe âm thanh một chiếc máy khoan đằng sau nơi đó.

    "Chỉ ở ngay bên ngoài nhà riêng anh ấy", tôi nói, "Thật không may chút nào". Follow up:


    "Anh biết người đó à ?".

    Tôi gật đầu. "Vụ này cảnh sát nghĩ sao đây ?"

    Thám tử Parry nhìn tôi bằng ánh mắt sắc như dao.

    Lúc Parry và tôi lần đầu tiên gặp nhau cách đây mấy tháng là trong trường hợp tôi bị bắt vì tình nghi liên quan đến vụ giết người ở Hampstead Heath, ngay lúc đó tôi đoán chừng anh ta là gay. Anh ta tỏ ra chú ý nhiều tới vẻ bề ngoài của tôi. Có lẽ ánh mắt của anh ta còn rõ ràng hơn bất kỳ cử chỉ nào khác - nhưng lúc ấy tôi đã chứng minh sự vô tội của mình và đã tìm ra thủ phạm thực sự.

    Dĩ nhiên là Parry cũng không kiếm cách tỏ tình hay hò hẹn gì cả và điều này có thể khiến tôi cứ mãi nghi ngờ nếu như một lần vào buổi tối tình cờ chạm trán anh ta ở quán rượu West End dành cho giới đồng tính, lúc đó anh ta vẫn để tóc dài như lâu nay vẫn thế. Khó có thể nhận ra được khi anh ta trút ra khỏi người bộ đồng phục. Một viên thám tử cảnh sát trẻ, làm việc nghiêm túc, tướng tá bề ngoài hơi thấp nhưng chắc khỏe đang mặc một chiếc áo pull hở cổ, hợp với chiếc quần jeans đang mặc. Tôi biết chiếc áo hiệu Versace vì cái thương hiệu được đính lên tay áo bên trái. Kinh thật ! Cứ thử nghĩ một tay cớm lại có thể bỏ ra hơn 100 bảng anh cho một chiếc áo pull.

    Dù sao đi nữa thì anh ấy vẫn cứ diện bộ cánh ấy lắc lư theo dòng nhạc. Dĩ nhiên có môt dịp may hiếm có như vậy dễ gì tôi chịu bỏ qua, thừa lúc tay DJ giới thiệu bài nhạc khác, tôi bước tới gần và chào hỏi. Liệu rằng anh ấy có lúng túng không ? Thực tình thì không. Ngược lại là khác. "Chào anh, Matt Silvain", viên cảnh sát nói, "Tôi không ngờ chúng ta lại gặp nhau ở cái thế giới "ba rọi" này". Sau đó thì anh ta đến gần sờ nắn tôi một cách tự nhiên.

    Lúc này, nếu như bạn đã từng đọc những chương trước ắt là bạn biết rõ tôi có quan hệ với một thanh niên tên là Paul Massingham. Tình cảm hai chúng tôi cứ lên xuống thất thường, ý tôi nói là vào thời điểm này không phải là không mặn mà. Nhưng bạn cũng thừa biết, đàn ông vẫn cứ là đàn ông với quả tim cực kỳ rộng rãi, mà khi có một người đàn ông khác, nhưng không nhất thiết phải là người như Quasimodo (1), vuốt ve những phần nhạy cảm nhất của cơ thể bạn, liệu rằng bạn sẽ phản ứng thế nào đây. Chịu thôi chứ biết làm sao ! Vì vậy, chúng tôi khiêu vũ với nhau như một cặp tình tứ. Ted (Ted Parry là tên đầy đủ của anh ấy) cùng tôi đều tỏ ra cởi mở, và thân mật hết cỡ.

    Tình thật thì bạn cũng biết rồi đấy, chúng tôi đâu có đi từ A tới Z. Vấn đề là phải đi đâu để làm chuyện ấy. Anh ấy sống ở khu nhà tập thể sở cảnh sát, còn tôi thì rất ngại phải thú nhận rằng Paul đang có mặt ở nhà tôi rồi, vì vậy đêm ấy chúng tôi chẳng làm gì khác được ngoài sự mong đợi của Ted và tôi. Nhưng vấn đề là từ nay tôi có thể liên lạc với người của sở cảnh sát, đó là điều lâu nay tôi hằng mong ước, tất nhiên là vì công việc điều tra của mình.

    Hả ! Tôi từng nói đùa với ai bao giờ chưa ? Bạn cứ yên chí !

    Nhưng sau đó chúng tôi trở thành bạn bè và anh ấy bây giờ là người khi cần thông tin thì tôi có thể gọi điện nhờ giúp đỡ. Một công được hai ba chuyện, chẳng phải là "nhất tiễn hạ song điêu" hay sao ? Cũng giống như hôm nay với chuyện phát hiện tử thi trên đường, nhưng bây giờ cái xác ấy không còn nằm đó nữa.

    "Vậy về phía cảnh sát họ nghĩ gì vậy ?", tôi hỏi.

    Ted nói, "Một vụ đụng xe và tài xế bỏ chạy. Có lẽ là một vụ tại nạn và người gây tai nạn hoặc giả là quá sợ hãi hoặc giả là đã say xỉn nên không dừng lại và báo cáo vụ việc với nhà chức trách. Dù sao đi nữa chuyện này có làm anh quan tâm không ?".

    Tôi trả lời Ted.

    Số là đêm hôm trước, Paul đã gọi điện thoại cho tôi tại văn phòng, lúc đó tôi còn ngồi đợi điện thoại của khách hàng, Paul hỏi tôi có muốn gặp cậu ấy tại nhà người bạn hay không, đó là nhà của Peter Squires. Vấn đề rắc rối là công việc và Paul thừa hiểu tôi cần việc làm như thế nào. Bạn có thể nghĩ rằng thám tử tư là một nghề nghiệp hấp dẫn, thú vị. Nhưng sự thật không phải thế nếu như không có việc làm. Còn tôi đang đợi việc làm qua điện thoại. Một vụ làm ăn nhỏ nhưng không xa lắm.

    Squires sống tại một căn nhà gạch đỏ thời Victoria, nền cao ráo, theo tấm biển chạm khắc bên trên cánh cửa thì ngôi nhà này được xây dựng từ năm 1861. Đó là một tòa nhà đồ sộ được chăm sóc kỹ lưỡng, nhưng dù vậy mọi thứ đã trở nên cũ kỹ theo thời gian. Ít ra nó cũng trải qua nhiều cuộc chiến tranh, kể cả hai cuộc chiến tranh thế giới và chịu đựng sự tàn phá trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai. Tường gạch vài chỗ có vết rạn nứt, không quá lớn, nhưng đủ để chứng tỏ sự cần thiết phục chế nếu muốn giữ lại vẻ tráng lệ như trước đây. Trời hãy còn sớm, con đường Granby khúc khuỷu vắng vẻ mặc cho ánh nắng tràn ngập. Ngôi nhà gạch đỏ sừng sững như một đóa hoa nở rộ rực rỡ. Bỗng dưng tôi có một cái cảm giác xúc động vì con đường cổ kính này. Mặc cho những vết thương trên người, nó vẫn ngạo nghễ tồn tại với thời gian.

    Peter Squires mở cửa. Một chàng trai cao, gầy khỏng kheo. Cặp mắt kính trông ra dáng trí thức nghiêm túc. Trông dáng vẻ người này có vẻ già trước tuổi. Chỉ khi nghe giọng nói và sự nhiệt tình thì mới biết vẫn còn là trai tráng. Paul đã có mặt ở đó sẵn rồi, xuất hiện ngay sau lưng Squires và, như thường lệ, cái dáng vẻ người yêu của tôi tóc hung, thân thể cân đối, má ửng hồng, luôn nở nụ cười trên môi, khiến tim tôi rộn rã những cảm giác quen thuộc.

    "Vậy anh là Matt phải không ?", Squires nói, "Tôi được nghe nhắc nhiều về anh".

    "Chắc không phải là chuyện tốt chứ gì ?", tôi đáp với vẻ đùa cợt vốn dĩ của mình.

    "Vào đây, uống chút bia cái đã".

    Tôi bước vào trong, lúc đi vào tôi thò tay vỗ mông Paul một cái, cho dù có sự hiện diện của Squires. Chúng tôi ngồi trò chuyện trong khu vườn bé xíu bằng nắm tay ở đằng sau nhà, trong cảnh hoàng hôn.

    "Ở đây đẹp quá", tôi mở lời khen.

    "Ừm, nhưng chỉ đẹp cho tới lúc người ta giật sập nó xuống và xây lên những ngôi nhà mới hiện đại", Squires cay đắng nói.

    "Người ta định làm thế sao ?", tôi hỏi.

    Squires gật đầu.

    "Như vậy là anh phải bán căn nhà này ?", tôi hỏi tiếp.

    Squires thở dài, "Họ làm khó nên bán đâu có dễ", anh nói, "Trước tiên họ tỏ vẻ thân thiện, đưa ra một giá mua hấp dẫn, nhưng mà....", anh dừng lại, "nếu anh không muốn bán thì sẽ gặp rắc rối".

    "Chuyện gì chứ ?".

    Paul xen vào, "Ồ, tiếp tục đi Peter, đừng có lòng vòng nữa. Đó là những chuyện tồi tệ mà, Matt. Anh đừng hòng mà bước nổi một bước nếu đi về nhà khuya. Rác rưởi thì họ ném vào sân trước nhà anh, hòm thư thì họ nhét quần áo cháy đen vào đó. Không ai có thể chịu đựng nổi lâu hơn được nữa".

    "Và dĩ nhiên còn tiếng ồn không dứt nữa", Squires nói. Lúc anh im lặng, tôi có thể nghe được tiếng máy khoan đào ngoài đường. Không còn nghe được tiếng chim chóc hót trên cành cây, tiếng động cơ máy khoan đã chiến thắng. "Chúng tôi đã cố tập họp thành một nhóm, vì nghĩ rằng nếu "đông tay vỗ nên kêu", nhưng rồi họ cũng rút lui, giờ vỏn vẹn chỉ còn vai gia đình thôi, càng cô thế càng gặp nhiều khó khăn hơn".

    "Vậy cảnh sát đâu ?", theo thói quen tôi bật ngữa người ra thành ghế hỏi.

    Squires nhún vai, "Họ chỉ nói đó là chuyện vặt vảnh ở hàng ngày ở địa phương, mà anh thừa biết rồi đó. Còn tôi nghĩ rằng họ không muốn nhúng tay vào".

    Tôi nghĩ rằng mình cũng sẽ không muốn như họ. Chuyện này có vẻ như nếu có bất kỳ ai muốn tiếp cận thì ắt phải lãnh một hậu quả nghiêm trọng. "Anh có nghĩ những chuyện này ai đứng sau lưng giật dây không ?".

    "Tôi tin chắc đó là Arthur Lennox".

    "Tôi nghĩ rằng nên điều tra rõ ràng hẳn nói", tôi ngập ngừng nói. Paul liếc xéo tôi. Ánh mắt ấy tôi thường bắt gặp mỗi khi gặp sự việc gì mà tôi thiếu hăng hái.

    Từ cửa sau căn nhà, bỗng có một phụ nữ đi vào. Squires đứng dậy và hôn bà ta. Không phải là nụ hôn đam mê, giống như nụ hôn phớt của người chồng khi đi làm về nhà hôn vợ. Nhìn thấy vậy tôi rất đổi ngạc nhiên. Không hiểu sao tôi cứ đinh ninh rằng Pete Squires là dân đồng tính mới là chuyện lạ.

    "Đây là Lara", Squires trỏ vào tôi nói tiếp, "còn đây là Matt Silvain và P...".

    "Nhà Dixons đang dọn đi đó", người đàn bà nói, cái giọng nói hớt hải đầy kịch tính như sắp có chiến tranh thế giới lần thứ ba nổ ra.

    "Ôi, thật xui xẻo", Squires nói, "Tôi biết họ đang dao động nhưng hy vọng họ sẽ nghĩ lại". Anh quay sang tôi nói, "Gia đình họ sống ở nhà số 64", anh nói tiếp, "Hôm kia, có ai đó ném vỡ cửa sổ nhà họ. Còn bây giờ thì chuyện gì xảy ra nữa đây ?", anh quay sang Lara hỏi.

    "Đám con cái nhà họ trên đường đến trường bị đe dọa", người phụ nữ nói, "không bị thương tích gì nhưng cũng một phen vãi đái. Thế là nhà họ không chịu được nữa và chấp nhận lời đề nghị của Lennox. Gần đây họ lại giảm giá mua, một lũ khốn nạn !".

    "Hy vọng Matt sẽ ở đây giúp chúng ta".

    Lara nhìn tôi không nói gì. Tôi có thể nhận ra ngay biểu hiện trên nét mặt chị ta chứng tỏ rằng Lara chẳng thích tôi tí nào. Để phá tan sự im lặng nặng nề, tôi nói sẽ gọi điện hỏi thăm nhà Dixons và hứa sẽ quay lại ngày hôm sau. Sau đó tôi cùng Paul ra về. Tôi hiểu Paul đang nổi nóng với tôi. "Anh sao vậy ? Bộ anh không muốn giúp họ sao ?", Paul hỏi tôi.

    "Chuyện không dễ ăn đâu, Paul", tôi đáp, "Cái gì khiến em nghĩ rằng anh có thể tìm ra những điều mà cảnh sát không tìm ra được ?".

    "Họ ư, một chút cố gắng cũng không có. Còn anh, ít ra anh cũng đến gặp Peter, gặp nhà Dixons để tìm hiểu".

    Nhà số 64 nằm dọc theo con đường này, rất dễ xác định. Tất cả cửa sổ bằng kính đều bị vỡ toang. Cả nhà ùa ra ngoài xem một cặp thanh niên trẻ, rất khả nghi. Phải cân nhắc cẩn thận họ mới cho chúng tôi vào nhà, sau khi nghe tôi giải thích chúng tôi không phải là kẻ xấu và họ dò xét từng lời. Vâng, họ đã nhận lời, con trai họ là Shaun đã gặp phải sự cố trên đường tới trường sáng nay. Họ không kể chi tiết sự việc vì Shaun không kể gì nhiều cho cha mẹ nghe cả, chỉ đại khái là có một bọn trẻ con vây quanh nó bảo nó và gia đình "tốt hơn hết là hãy cuốn xéo nơi khác nếu biết điều".

    "Trẻ con ư ?", tôi hỏi. Tất nhiên, đúng như lời cảnh sát đã nói.

    "Đúng thế", bà Dixon nói, vẻ ưu tư lo lắng nhiều năm hằn lên những nếp nhăn trên gương mặt người đàn bà này. "Nhưng không phải lũ trẻ con ném đá qua cửa sổ".

    "Bà có thấy họ không ?", Paul hỏi.

    "Chỉ thấy bóng người", bà nói, "nhưng không phải là đám con nít".

    "Còn ông, ông nghĩ gì ?", tôi hỏi người chồng.

    "Lúc đó tôi không có mặt ở đó", ông chồng nói vắn tắt, "vì thế mới làm cả nhà hốt hoảng".

    "Ổ, sao thế này ?", Paul nói khi chúng tôi đi ra chỗ tối ngoài hiên nhà, phát hiện những mảnh vỡ bóng đèn rãi rác. Trời se lạnh, còn tôi chỉ muốn về nhà ngay, muốn đưa Paul cùng về với tôi. Bỗng dưng con đường tỏ ra đe doạ, những khúc quanh giữa dãy nhà tối om om ẩn chứa những mối nguy hiểm khôn lường.

    Tôi ngữi thấy mùi bánh mì xúc xích, mùi hành và mùi gà rán. Mùi xăng đốt chưa hết thải ra từ xe hơi và taxi khi dừng lại trước đèn đỏ trên góc đường Granby trước khi rẻ vào đại lộ. Bầu không khí cô đặc, mệt mỏi. Nhưng đó là bầu không khí ở Luân Đôn. Gần cuối tháng tám thì trời bắt đầu lạnh. Người ta có cảm giác là mùa hè đã qua lâu lắm rồi.

    Có một người trạc 25 hoặc lớn tuổi hơn một chút, xuất hiện từ cuối đường, đang thả bộ đi ngược chiều. Tôi thấy đó là một anh chàng gấy ốm, mặt mày u ám góc cạnh, trán vồ như chất chứa đầy phiền muộn, mắt nâu tối nhìn như đang có tâm sự gì đó. Người này chợt bắt gặp cái nhìn của tôi nên mỉm cười, có lẽ người này quen biết tôi cũng nên. Thoáng một cái, người ấy đã đi qua.

    Tôi ngoáy lại nhìn theo dáng người đàn ông khi người này đi vào chỗ tối giữa hai ngọn đèn đường, dáng người mảnh khảnh, cặp mông lắc lư theo bước đi trong chiếc quần jeans, sau đó thì rẽ vào một căn nhà sát đường.

    "Anh sẽ gặp lại người đó mà, lo gì", Paul nói. Giọng cậu ấy ngọt ngào; nhưng tôi nghĩ Paul chẳng vui vẻ gì.

    "Em có thấy người đó vào nhà ai không ?", tôi hỏi, "Khách của nhà Peter Squires đó".

    Chúng tôi về nhà ăn uống, tôi chỉ cân tắm rửa thay quần áo, còn Paul làm một số việc chuẩn bị cho ngày hôm sau. Vì vậy tôi quyết định đến nhà Paul ở. Dĩ nhiên, đây không chỉ là quyết định của riêng mình tôi. Cả hai chúng tôi đều có cùng ý định ấy để có thể tâm sự ban đêm. Thực ra chúng tôi đã nói chuyện hàng giờ trong nhiều đêm, sau khi làm tình với nhau. Chàng trai gối đầu lên cánh tay tôi thủ thỉ. Còn tôi thì biết rằng có là cái tôi ưa nhìn vào mỗi sáng sớm.

    Khi tôi bước ra ngoài, quay lại nhìn gian phòng khách nơi có hình dáng chàng trai tôi yêu đang miệt mài bên bàn làm việc. Chàng trai đang gõ lách tách trên bàn phím vi tính, và dòng suối chữ tuôn chảy trên màn hình. Tôi thầm ngưỡng mộ vóc dáng cân đối và mái tóc dài phủ gáy. Trong một chốc tôi ngẫn ngơ nhìn, hầu như chôn chân tại ngưỡng cửa ra vào. Tôi ngắm màu sơn nước trên tường mà tôi và Paul đã cùng lựa chọn, cái đèn trên bàn đang tỏa sáng màu vàng đỏ nhạt trên gò má xương xương của Paul. Tất cả những quang cảnh ấy làm tôi bồi hồi, không muốn rời khỏi nơi chốn thân yêu này.

    "Em không muốn đi cùng anh sao ?", tôi hỏi.

    "Phải làm xong việc này cho ngày mai", Paul đáp, "em có việc quan trọng phải làm". Paul làm việc cho một công ty quảng cáo, tôi để ý chỗ này lúc nào cũng hối thúc công việc. "Đừng về trễ, và nhớ đừng dính líu tới những người đàn ông xa lạ nghen", chàng trai quay sang tôi cười và nói.

    Tôi hứa, như đã từng hứa hẹn như thế !

    "Nếu anh về mà em còn ngủ, nhớ đánh thức em dậy".

    Tôi chạy xe xuống đường Granby có thể coi như đó là một cuộc chạy đua tốc hành, tới quán rượu ở cuối con đường. Tất nhiên đó không phải là cái quán rượu cổ lổ duy nhất, và dĩ nhiên cũng không quá đông khách.

    Một người đàn ông mập ú, càm ngắn nung núc mỡ đứng phục vụ sau quầy bar. Tôi độ chừng đó là người chủ quán. Dường như ông ta cũng là người thích hóng chuyện, như vậy lại càng hay.

    "Sự phát triển ở đây có làm ảnh hưởng gì đến chuyện làm ăn của ông không ?", tôi hỏi.

    "Không quá sớm như vậy đâu", người đàn ông vui vẻ trả lời, "Cứ nhìn tối nay thì rõ. Nếu người ta xây thêm mấy căn hộ khang trang, thì sau đó nhà máy bia sẽ đầu tư làm nơi này phất lên, sẽ thu hút được khách hàng".

    "Vậy ra ông không cùng nhóm trong cuộc vận động của Peter Squires sao ?".

    Người đàn ông sầm mặt, dè dặt nhìn tôi. "Tôi có thể hiểu anh ấy. Anh ấy không muốn đánh mất ngôi nhà của mình, nhưng trước sau gì thì anh cũng phải dọn đi mà thôi".

    "Ông nghĩ sao về những chuyện quấy nhiễu những chủ nhà còn ở lại ?".

    Một lần nữa, người đàn ông nhìn tôi bằng ánh mắt sắc lạnh. "Phóng đại chứ làm gì có", ông ta trả lời cụt lủn.

    "Giá mà Squires đến đây, tôi sẽ hỏi lại xem sao".

    "Anh là ai ? Phóng viên à ? Chúng tôi không thích mấy tờ báo quậy chuyện ở đây đâu".

    Tôi bảo đảm với ông ta rằng tôi không phải là phóng viên. "Tôi dự tính mua nhà gần đây. Nhưng cũng cần phải hiểu rõ tình hình địa phương mới dám mua chứ".

    Người đàn ông gật gù, tỏ ra đồng ý với lời nói dối của tôi. "Anh lỡ cơ hội mất rồi", người đàn ông nói tiếp, "Anh ấy vừa ở đây". Người đàn ông dừng lại cứ như đang cân nhắc có nên nói tiếp hay không, nhưng không may là cái tính nhiều chuyện đã thắng cuộc. Rõ ràng người này là một gã lắm mồm. "Anh ta vừa bị dần một trận", người đàn ông nói.

    Tôi làm bộ sợ hãi, "Đừng đánh tôi theo kiểu đó nghen", tôi nói.

    Người đàn ông nói với vẻ cứ như là ông ta hối tiếc vì sự việc đã xảy ra quá mức. "Ờ, không phải là cuộc ẩu đả thật sự. Chỉ tranh cãi hơi gay gắt thôi".

    "Chắc cũng là việc đầu tư phát triển nơi này chứ gì ?", tôi hỏi.


    Người đàn ông tiếp lời : "Anh ấy cãi cọ với Neil Winters."

    Khi thấy tôi không có chút phản ứng nào, người đàn ông nói thêm "Đó là một trong số những bạn bè của tôi".

    Tôi chợt nhớ ra cái cụm từ "Lennox và Winters". "Chuyện kết thúc thế nào ?", tôi hỏi

    "Squires chạy bổ ra ngoài, còn Winters thì đuổi theo".

    Và hôm sau thì Squires chết và tôi có mặt ở đây, cùng với viên thám tử cảnh sát mà tôi cảm mến, đang quan sát hiện trường không còn dấu vết, nơi chàng trai đã chết.

    "Thì ra anh theo đuổi việc này là muốn giúp anh ấy", Ted Parry nói.

    "Nhưng không may là đã quá muộn màng", tôi nói.

    "Anh phát hiện ra vụ này như thế nào ?"

    "Về cái chết của anh ta ư ? Khuya hôm qua, Lara Squires đã gọi điện tới".

    Tôi không kể cho anh chàng cảnh sát những chi tiết chính xác khác.

    Lúc tôi về đến nhà thì Paul đã lên giường rồi, đang nằm dài ở đó như thường lệ để tôi phải đánh thức dậy. Mái tóc hung lỏa xỏa và gương mặt hồn nhiên như trẻ thơ. Nhớ lời Paul dặn lúc rời nhà, tôi không cần phải phí sức rón rén đi vào, thế mà Paul vẫn ngủ say, chỉ làu bàu những gì vô nghĩa khi tôi quàng tay ôm chàng trai. Ánh đèn đường bên ngoài hắt vào phòng và tôi nghĩ giá mà mình kéo tấm rèm che lại thì hay biết mấy, nhưng tôi lại không muốn bò ra khỏi giường. Mặc dù tôi cảm nhận thân thể Paul đang cục cựa tựa sát vào người tôi, nhưng tôi chỉ muốn thư giãn và cố mà chợp mắt. Nhưng thân thể tôi lại rạo rực chẳng muốn ngủ yên.

    Tôi cố trở mình thay đổi thế nằm, nhưng vẫn thấy khó chịu.

    "Trời sáng rồi ư ?", tôi nghe tiếng thỏ thẻ của Paul.

    "Không đâu cưng", tôi hít cái mùi thơm dịu nơi mái tóc chàng trai, "Em bảo là sẽ thất vọng nếu anh không đánh thức em dậy".

    Paul rúc vào đôi tay tôi và quay sang nhìn tôi. Tôi hôn khẽ lên cánh mũi chàng trai rồi mỉm cười, sau đó thì tìm kiếm đôi môi khép hờ. "Bộ em còn thấy mệt hay sao ?".

    Dù còn ngái ngủ, nhưng Paul vẫn tươi cười ghé tai tôi nói nhỏ "Em không bao giờ biết mệt vì anh đâu. Làm cho em đi". Tôi lần tay xuống bên dưới mò mẫm khiến Paul rúc rích cười vì nhột. Tôi kéo Paul nằm ngữa và vuốt ve từ trên xuống đùi, mơn trớn từ dưới lên vùng hông, rồi lại quay người xuống dưới ở ngay giữa háng, bên trong giữa hai đùi, khu trung tâm cảm giác của cơ thể Paul.

    Không rời mắt khỏi Paul, tôi thấy chàng trai mắt khép hờ, nụ cười nở trên môi, tỏ ra thích thú với trò âu yếm của tôi, khúc dạo đầu ái ân lãng mạn. Tôi cúi xuống, cánh môi hé mở đặt những nụ hôn trên thịt da nóng bỏng của người tình cho tới khi đụng vào con cặc của Paul, tôi miết môi ép mạnh cặc Paul sát vào dái.

    Paul đưa tay vò vò mái tóc cắt ngắn trên đầu tôi, ưỡn đì ra trước vặn vẹo người. Nhưng tôi ngồi dậy quỳ giữa háng Paul và nâng chân chàng trai lên cao, trong cơn đam mê ngùn ngụt, tôi hôn dọc theo bắt chân lên đùi. Có lẽ không chỉ mình Paul cảm thụ được những nụ hôn ấy như thế nào, mà bản thân tôi cũng cảm thấy ngây ngất say đắm trong sóng tình dào dạt. Lúc này Paul mở mắt hẳn ra và thở gấp khi tôi ép môi vào bên dưới dái Paul, nơi cánh cửa địa đàng đang chờ đón. Lưỡi tôi rà quanh mép một lúc rồi ngược trở lên hai hòn bi và liếm dọc thân cặc trước khi ngoạm đầu khấc vào cái miệng háo hức, thèm khát của mình. Tôi rà lưỡi quanh mép khấc và liếm những giọt mặt từ đó tiết ra và sau cùng thì mút mạnh cặc Paul vào trong cổ họng.

    Tôi cảm nhận rằng Paul đang tê tái vì sướng, vì anh chàng rên ư ử không thành lời, cứ liên tục nẫy đì lên đòi hỏi. "Em không chịu nỗi nữa đâu, đụ em đi anh !".

    Tôi ngậm ngón tay trong miệng để làm ướt rồi đút vào lổ của Paul, tranh thủ với tay mở ngăn kéo lấy tuýp kem bôi trơn KY.

    Ngay cái lúc sắp sửa tận hưởng thú vui trần tục thì có tiếng chuông điện thoại reo vang.

    Vào giờ này trong đêm, nếu có ai gọi đến chỉ có nhầm số hoặc trường hợp khẩn cấp. Lúc đầu tôi làm ngơ nhưng tiếng chuông reo thúc giục khiến tôi phải bỏ dở công việc đang làm.

    "Bực thật !", tôi nói, "Đừng bỏ đi đâu nghen cưng".

    Paul vẫn lim dim không nói gì.

    Tôi bò ra khỏi giường trong lúc con cặc còn cứng ngắc, bước tới nghe điện thoại, "Vâng, tôi đây", tôi gấn như hét vào tai người bên kia đầu dây.

    Có giọng phụ nữ, nghe lạ hoắc, nói : "Có phải Paul đấy không ạ ? Paul Massingham phải không ?"


    "Ai đầu dây vậy ?", tôi hỏi, "Bà không biết bây giờ là giờ nào hay sao ?".

    "Tôi là Lara. Chị của Peter Squires. Nó chết rồi". Giọng nói lạnh tanh, không chút cảm xúc. Ngay lập tức cơn giận vì những đòi hỏi dục vọng bị phá bỉnh của tôi biến mất.

    "Ồ, xin lỗi chị Lara", tôi nói, "Matt Silvain đang ở đây. Có chuyện gì vậy. Chị có cần chúng tôi đến ngay không ?".

    Sáng hôm sau, Paul nói với tôi, "Lara là chị của anh ấy đó", một lời xác nhận không hơn.

    Tôi gật đầu không nói gì. Lúc mới gặp tôi cứ ngỡ Lara là vợ của Peter. Trời, tôi là thám tử kiểu gì vậy ? "Em nghĩ cái chết anh ấy có gì đáng nghi không ?".

    "Đằng sau việc đụng chết người rồi bỏ chạy, ý anh như vậy phải không ?".

    "Ừ, tối qua anh ấy vừa có chuyện cãi cọ với Neil Winters", tôi đáp.

    "Tôi có thể hình dung ngay là anh ấy lúc nào cũng tranh cãi với những người ủng hộ dự án phát triển. Họ đứng về phía những người mà anh ấy đang ra sức chống lại. Không lẽ vì vậy mà họ giết anh ấy ?".

    "Cái đó còn tùy thuộc vào mức độ họ ủng hộ dự án phát triển nhiều hay ít", tôi đáp.

    "Anh nói cứ y như nhà chức trách vậy".

    "Nhưng dù vậy, anh cũng đâu phải là cảnh sát".

    Paul phá ra cười.

    Thôi đùa giỡn, tôi nghiêm mặt nói, "Anh phải đi gặp chị Lara. Tối qua lúc nghe điện, anh có hứa với chị ấy sẽ đến".

    "Chắc là chị ấy buồn lắm".

    "Chứ còn gì nữa ?".

    "Sau vụ này mình kiếm gì uống chứ ?", Paul hỏi như thường lệ.

    "Hôm nay không làm việc sao ?".

    "Em nghỉ".

    "Vậy mình sẽ gặp nhau ở quán Granby Arms nhé".
    * Ủng hộ quảng cáo vì sự phát triển của Vietboy[dot]net.

    * Hãy bấm nút "Thanks" nếu bạn cảm thấy bài viết của ai đó có ích!


    Upload ảnh: http://img.vietboy.net

    New English site: http://boybb.net

  4. #4
    Tham gia ngày
    Feb 2009
    Bài gửi
    2.092
    Thanks
    0
    Thanked 49 Times in 34 Posts
    Năng lực viết bài
    480

    Mặc định Re: Tôi và Paul

    Phần 2

    Tôi thu xếp để gặp Lara tại nhà Peter Squirel vào lúc 11 giờ. Khi đi qua cổng, dọc theo lối đi dẫn tới cửa trước, tôi nghe có tiếng đồng hồ gõ đều đặn. Trước khi kịp bấm chuông, thì Lara đã bước ra mở cửa đón tôi.

    Trông chị ấy sợ hãi lắm. Rõ ràng Lara mất ngủ vì có những vệt thâm quầng quanh mắt, tóc tai bù xù. Lara cũng không trang điểm gì, da trông khô và nhăn nheo. "Cuối cùng thì họ cũng làm chuyện đó", Lara nói to, trước khi tôi kịp nghĩ nên nói gì thì chị ấy nói tiếp, "lũ cảnh sát khốn kiếp chẳng thèm làm chuyện gì, một lũ sâu bọ".

    Tôi liếc ra sau nhìn thám tử cảnh sát Parry đang đứng ở vỉa hè đối diện. Có lẽ anh ấy cũng nghe rõ mồn một những lời ấy. Vì vậy Parry quay lưng bỏ đi.

    Chúng tôi vào nhà, "Cậu phải giúp tìm chứng cứ, chắc bọn chúng không thể xóa sạch hết dấu vết đâu".

    "Có người đến gặp Peter tối qua, người đó là ai vậy ?", tôi hỏi.

    Hình như Clara giật mình khi nghe hỏi vậy "Tôi đâu có biết. Nó bảo nó sẽ ở nhà, còn sau lúc anh về thì tôi cũng bỏ đi nên không có mặt ở đó".

    Tôi không hiểu sao mình lại cật vấn chuyện đó. Rõ ràng đó không phải chỉ là thuận miệng mà hỏi một cách "ngẫu nhiên". Chuyện xảy ra ngay sau đó, sau việc Peter tới quán rượu cãi nhau với Neil Winters và rồi, giận dữ bỏ về nhà. Mọi thứ tôi cần là muốn biết rõ bức tranh toàn cảnh của sự việc.

    "Chị có đoán được người đó là ai không ?", tôi hỏi, "tóc sẫm, ốm, chắc hơn 20 tuổi. Chúng tôi trông thấy người này khi ra về. Chắc chắn là người này đến đây".

    Lara nhún vai tỏ ý không biết gì.


    Thêm một câu hỏi nữa : "Peter là người như thế nào vậy chị ?", tôi hỏi, có lẽ là hơi nhạy cảm, "anh ấy có ghi nhật ký các cuộc hẹn gặp hàng ngày không ?".

    Người đàn bà cười đau khổ rồi mở cánh cửa nối với phòng khách, đưa tay chỉ một bàn giấy trên đó một trong các túi đựng giấy tờ hở miệng, giấy tờ bên trong lộn xộn. Chắc Peter không cẩu thả như vậy, tôi tin thế, loại người hay ghi lại nhật ký như anh ấy để sắp xếp các cuộc hẹn chắc chắn không có tính cách ấy.

    Tôi bước tới bàn. Có vài tờ nháp ghi hẹn gặp với nhóm dự án phát triển mà anh đang chống lại, những bản sao thư từ gởi đi và trả lời từ hội đồng thành phố, rồi những ghi chú về các biện pháp trả đũa Lennox and Winters. Riêng tư hơn một chút, tôi tìm thấy vài tờ giấy không ký tên nhưng chứng tỏ một mối quan hệ thân mật. Một tờ ghi : 'Lâu quá không gặp anh, có lẽ thứ năm được không". Nội dung không chỉ rõ ngày tháng nên không giúp gì nhiều. Nhìn nét chữ rắn rỏi, tôi bắt đầu nghi ngờ người đàn ông này.

    "Chị có biết ai gửi đến những thứ này không ?", tôi hỏi.

    Lara lắc đầu. "Nó không nói nhiều với tôi về cuộc sống riêng tư của nó", chị nói tiếp, "Chúng tôi chỉ hợp tác chống lại đám xây dựng độc ác kia thôi". Bà cầm khăn tay xỉ mũi. Hy vọng chị sẽ không vì xúc động mà không cho tôi vào đây nữa.

    "Tôi sẽ đi gặp họ", tôi nói.

    Vừa định ra về thì tôi chợt để ý thấy một lá thư hơi giống thư từ cơ quan trong cái đám bề bộn trên bàn. Tiêu đề thư ghi "Viện bảo tàng Anh Quốc". Tò mò, tôi xem thử. Thư không viết gì nhiều :

    Chào ông Squirel,
    Khám phá của ông rất thú vị. Chúng ta nên gặp nhau để trao đổi thêm.

    Cuối thư là chữ ký ngoằn nghèo. Dù vậy, hàng chữ in bên dưới vẫn ghi rõ tên Wallis B.Embury, Giáo sư khảo cổ học. Hẳn là tôi sẽ bỏ qua thư này nếu như không thấy bên cạnh có một từ viết nghuệch ngoạc - Eureka (ND : Tìm thấy rồi !).

    Tôi hỏi : "Có phải đây là chữ viết của Peter không ?".

    Lara gật đầu, dù chị lúc này trông như giật mình khi nghe hỏi đến.

    "Nó nói gì vậy chị ?".

    "Không có gì quan trọng cả", chị nói và túm lấy lá thư vò nát rồi ném vào sọt rác.

    "Lũ khốn nạn", chị nói khi tôi bước ra cửa trước.

    Nhưng việc đầu tiên tôi hứa là đi gặp Ted.

    Anh ngồi ở quầy bar, tự nhiên như ở nhà, tay đang cầm một ly cối lớn. Anh quay lại mỉm cười khi tôi bước vào và tôi nhận ra - không phải là lần đầu tiên - người đàn ông này trông thật hấp dẫn : một người đàn ông còn trẻ, có lẽ chỉ hơn tôi vài tuổi, tóc sẫm cắt ngắn, dựng đứng lên nhưng không phải vuốt gel, kiểu như bạn nhìn thấy là muốn lùa ngón tay qua mái tóc ấy. Trông bên ngoài có vẻ như là đàn ông trăm phần trăm, dễ thương. Mặc một bộ đồ thông thường, quần tậy rộng màu nhạt, áo sơ mi màu xanh trơn, bên ngoài khoác áo jacket da. Nụ cười làm lộ mấy chiếc răng khễnh nhưng không làm giảm giá trị của nụ cười. Tôi gọi một ly bia có nồng độ thật nhẹ.

    Người đàn ông mập mạp đứng sau quầy nói, "Tôi phải mời anh một chai bia mới được".

    "Tôi vừa nhận một cuộc gọi, xin lỗi cho phép tôi gọi nhờ điện thoại được không ?", tôi nói.

    Ông ta chỉ một lối đi ở giữa. Điện thoại được đặt sẳn có một khe nhỏ để nhét đồng 10 xu. Trên tường ngoằn nghèo những dòng chữ ghi nội dung tin hoặc số điện thoại. Tôi quay số gọi cho Viện bảo tàng Anh Quốc, và khi có một giọng nói trả lời rất lịch sự, thì tôi yêu cầu được gặp Giáo sư Wallis B. Embury.

    Tôi đinh ninh cái tên Wallis là tên đàn ông và khi nghe một giọng nữ người Mỹ trả lời thì tôi hết sức bất ngờ, ngẫu nhiên nhớ đến người đàn bà kết hôn với Edward VIII, là Wallis Simpson.

    "Xin chào bà", tôi nói và bắt đầu giải thích chuyện lá thư và cái chết của Peter Squirel.

    Giọng nói của người đàn bà tỏ ra thành thật chia buồn, "Tôi cũng đang định gặp anh ấy. Cái anh ấy vừa tìm thấy thật sự hấp dẫn".

    "Chính xác là cái gì, trong thơ bà không nói rõ lắm".

    Người đàn bà dường như rất nhiệt tình, "Hình như đối với anh đó chỉ là một quần thể đá cổ, nhưng tôi nghĩ đó là một mảnh cuối của một bức tượng, hay là một bó đuốc do Cauteus (?) cầm, mà nếu đúng như vậy đó có thể là cánh cửa lối vào đền thờ thần Mithras (2).

    Tôi nhẫn nại chờ đợi.

    "Một ngôi đền thờ thần Mithras. Hình như Squirel tìm thấy nó ở khu vực công trường xây dựng".

    "Chuyện ấy có gì quan trọng lắm không ?".

    "Nếu đúng như tôi nghĩ thì rất quan trọng".

    "Và sao nữa ...?"

    "Ồ, tất nhiên công trình xây dựng sẽ bị đình chỉ. Ít nhất là cho tới khi người ta thực hiện xong cuộc khai quật ở đó".

    "Chuyện đó làm được sao ?".

    "Ồ, còn tùy thuộc vào quá trình tìm kiếm, có thể kéo dài hàng năm trời hoặc lâu hơn nữa".

    "Eureka", tôi nghĩ thầm, cám ơn bà ta và ngắt máy.

    "Vậy anh thấy rồi đó", tôi nói với Ted, "nếu đó là sự thật thì Lennox và Winters tất phải từ bỏ dự án phát triển, ít nhất trong một tương lai không thể nào đoán trước được".

    Parry trông không tỏ ra mặn mà với chuyện này. Anh ngồi trên chiếc ghế lơ đãng nghe tôi nói.

    "Có lẽ họ sẽ phải mất lắm tiền cho chuyện này, họ không thể trì hoãn việc thi công trong một khoảng thời gian lâu dài được. Thế là họ giết anh ấy".

    Parry co gối chạm vào đùi tôi, như vô tình, nên tôi không để ý, nhưng rồi mối quan hệ bạn bè thân mật của hai chúng tôi có dịp ôn lại khi phần nhạy cảm sát đùi cọ vào gối Ted.

    "Nếu có hàng triệu cân đất cát phải đào bới thì điều đó có nghĩa họ có động cơ giết người".

    Gối của Parry tiếp tục cọ sát bên trong đùi tôi, đùi người này sát đùi người kia. Tôi tự hỏi có nên đặt tay lên đó không. Còn đang phân vân thì anh ấy giải quyết vấn đề mau chóng bằng cách đặt tay lên đùi tôi. Bàn tay nằm yên một lúc khoảng giữa gối và háng. Một cảm giác rần rần làm con cặc tôi nổi hứng. Tôi dang rộng chân một chút như một kiểu mời mọc.

    Người phụ trách quầy quay lại, tay xách mấy chai bia. "Xin lỗi để anh đợi lâu", người đàn ông nói. Ông ta khui một chai rồi hỏi, "có cần dùng ly không ?".

    Tôi lắc đầu. Parry vẫn không rời tay khỏi đùi tôi; thực tế thì nó đang dần dần bò lên cái khối u ở giữa háng. Tôi cầm chai nốc một ngụm. Parry vẫn đang mơn trớn, mò mẫm và kích thích làm con cặc tôi dài ra để chà xát nắn bóp. Nhờ ơn Chúa, người đứng quầy quay lưng đi xa dù không biết ông ấy có thấy phía bên dưới quầy không và không biết khách khứa đến quán ngồi từ xa có thấy chuyện Parry làm với tôi hay không.

    "Ted này", tôi lên tiếng, "bộ anh không nhúng tay vào chuyện này hay sao ?".

    "Không phải việc của tôi, tôi được nghỉ", Ted đáp rồi cười dâm dật. "Chiều nay có ai ở nhà không ?".

    "Không có", tôi đáp mà chẳng cần phải nghĩ ngợi gì.

    Chàng trai nhìn tôi, tay vẫn sờ cặc tôi qua lớp vải mân mê nơi đầu khấc, làm tôi phát run lên. Phải, có lẽ bạn đã biết rồi đó, tôi đã từng kể chuyện về Paul và tôi, về sự tin tưởng cũng như sự tôn trọng, lẫn yêu thương ! Ồ, sao tôi lại nói chữ "yêu" ở đây nhỉ ? Té ra nãy giờ mình không nhớ gì hết, nhưng mà...

    "Tôi có cuộc hẹn gặp Neil Winters", tôi nói dối, "cho dù anh được nghỉ, nhưng tôi thì không rảnh lắm". Đó là một cách thoát thân dễ dàng, một lối thoát hèn nhát, bởi lẽ nó còn hứa hẹn lần gặp lại trong tương lai. Lẽ ra tôi nên nói như thế này, 'Xin lỗi, Ted, Paul và tôi quan hệ đặc biệt lắm. Dù rất thích anh, dù rất ngưỡng mộ anh, nhưng tôi không được phép làm thế". Tôi có nên nói thế không ? Có hay không !
    Chúng tôi vẫn vui vẻ chia tay nhau dẫu rằng anh chàng có hơi thất vọng. Tôi cũng thế, có thất vọng chút chút.

    Bây giờ tôi lần theo Neil Winters, trước tiên gọi điện thoại cho ông ta tại xưởng và người ta trả lời rằng ông Winters không có mặt ở đó. Sau đó tôi tra địa chỉ trong danh bạ điện thoại và đi tìm may ra gặp ông ta đâu đó.

    Căn nhà của Winters thì tương phản với nhà Peter Squires. Đó là một căn nhà thời Nhiếp chính thanh lịch có một khu vườn trước nhà thật rộng, được chăm sóc cẩn thận. Cửa trước đặt bên dưới một mái đón cổ điển. Trên lầu có 5 cái cửa sổ. Tôi bấm chuông. Tôi đợi một lúc nhưng không thấy ai trả lời. Tôi cố thử lần nữa, may mắn thay có tiếng người trong nhà vọng ra.

    Cửa mở, người thanh niên ra mở cửa chính là người đến nhà Squires mà tôi đã trông thấy tối qua. Nếu Lara trông khó coi cỡ nào thì người thanh niên này càng xấu xí gấp bội. Gương mặt người thanh niên xương xẩu giống như bị tạt acid làm mất hết da thịt. Người này râu rìa chưa cạo, còn sơ mi nhàu nát cứ như là anh ta để nguyên áo sống như vậy mà ngủ. Hai hố mắt thâm quầng chẳng khác người mất ngủ.

    "Ông là Neil Winters?", tôi hỏi.

    "Vâng", người thanh niên dè dặt đáp, nhưng trong giọng nói không biểu lộ chút xúc cảm nào. Dù đang nhìn tôi, hay ít ra lúc này ánh mắt hướng về tôi, nhưng thực ra anh ta chẳng có vẻ gì đang nhìn tôi cả. Tất nhiên người thanh niên không nhận ra là tôi đã biết anh ta trước đó. Cặp mắt lơ đãng không hồn. Nhìn thấy vậy tôi tự hỏi không biết người này có xỉn hay không.

    "Anh không sao đấy chứ ?", tôi hỏi, một câu hỏi ngu ngốc bởi vì rõ ràng chàng thanh niên này đâu có hơi rượu, nhưng đó cũng là một cách bắt chuyện.

    Người thanh niên bước tới có vẻ nặng nề. "Xin lỗi ông", anh ta nói, "Tôi có chuyện không vui. Ông cần gì ?".

    "Tôi cần nói chuyện về Peter Squires", tôi đáp.

    Người thanh niên giật mình, với tay chịu vào cánh cửa, người rũ xuống như một cây thịt bị đốn ngã. Một dấu hiệu phạm tội, tôi thầm đoán.

    "Anh ấy chết rồi", người thanh niên nói trong tiếng nức nở, ngắt quãng. Sâu thẳm trong lòng tôi bảo rằng tôi đã nhận định sai lầm về anh chàng này. "Anh ấy vừa qua đời, còn tôi sẽ không thể nào gặp lại anh ấy nữa rồi".

    "Bình tĩnh nào. Tôi rất tiếc phải nhắc chuyện này nhưng tôi có chuyện phải nói với anh. Chuyện rất quan trọng". Dù sao, những lời tôi cũng có tác dụng. Người thanh niên gượng dậy nhường lối cho tôi vào nhà.

    Chàng trai nặng nề gieo mình xuống chiếc ghế bành. Nhìn quanh quan sát, đồ đạc bày biện trong nhà đúng như điều mẹ tôi thường nói là "không có bàn tay đàn bà". Nhiều thứ phải phủ vải không để bụi bám.

    Tôi hỏi : "Ông sống một mình ở đây phải không ông Winters ?".

    Người thanh niên ngần ngừ nhìn tôi như cân nhắc xem điều đó có phải là việc của tôi cần tìm hiểu hay không rồi nói, "Vợ tôi bỏ đi rồi, chúng tôi khác biệt nhau quá xa".

    "Tối qua ông có gặp Peter Squires chứ ?".

    "Tối qua", người thanh niên lập lại cứ như là anh ta không tin đó là một thời gian cách đây không lâu.

    "Sau đó ông cãi nhau với anh ấy trong quán rượu...".

    Người thanh niên gật đầu. "Anh là ai ?", người thanh niên hỏi tôi.

    "Tôi là Matt Silvain, thám tử tư. Bà Lara Squires đã yêu cầu tôi điều tra cái chết của Peter".

    "Lara sao ? Hẳn là bà ấy điên rồi. Bà ấy có bao giờ tán thành chuyện tôi và Peter đâu".

    Điều chàng trai vừa nói làm tôi sững sốt. Lara từng nói rằng chị không biết tí gì về cuộc sống riêng tư của Peter. Tôi không hiểu tại sao chị ấy lại nói dối như thế.

    Tôi lặng đi một chút rồi đột ngột hỏi, "Ông có giết anh ấy không ?".

    "Giết anh ấy ư ? Tôi có giết anh ấy không ư ? Tất nhiên là không rồi. Tôi yêu anh ấy mà. Tôi vẫn còn yêu anh ấy tha thiết mà. Đó chính là lý do vợ tôi bỏ nhà đi. Chúng tôi, tức Peter và tôi, còn định sống chung với nhau nữa kìa...". Người thanh niên nghẹn ngào không nói được nữa.

    Tôi ghét nhất là nhìn thấy đàn ông khóc lóc, tôi cảm thấy thương hại chàng trai, nhưng vì lý do nào đó mà tôi không ôm chầm lấy chàng trai để tỏ thái độ cảm thông, mà chỉ ngồi im trên ghế chờ chàng trai thôi khóc.

    Tôi chắc rằng chàng trai cũng ngượng không kém gì tôi. Chàng trai nói "Xin lỗi anh".

    "Không sao, tôi hiểu mà", tôi đáp.

    Người thanh niên rót rượu mời tôi, nhưng tôi lắc đầu, lúc này là 10 giờ 30 sáng vẫn còn sớm. Ly rượu có lẽ làm cho người thanh niên bình tĩnh lại.

    "Ông có thể tiếp tục câu chuyện khi nãy được không ?", tôi hỏi, "Hai người cãi nhau về chuyện gì vậy ?"

    "Chắc ông đã biết về dự án phát triển ở khu vực này ? Nói cho cùng thì nó là một trò bẩn thỉu của Arthur Lennox. Nhưng rất tiếc là tôi đã tán thành dự án, nhưng vật tư đã mua rồi nên việc xây dựng phải bắt đầu tiến hành. Tiền của chúng tôi đều đổ vào dự án này. Tất nhiên là chỉ sau khi gặp Peter thì tôi mới thấy chuyện trở nên tồi tệ hơn. Peter muốn tôi tách khỏi nhóm của Lennox nhưng quả thật khó quá, thế là tối qua Peter đã nổi giận đùng đùng. Nhưng chúng tôi cũng đã tạm thu xếp ổn thỏa sau khi rời quán rượu.

    "Còn chuyện di chỉ khảo cổ đền thờ thần Mithras thì sao ?".

    Người thanh niên tỏ ra bối rối.

    "Những phế tích thời La Mã đó !"

    "Tôi không biết gì về chúng. Peter chưa từng nói điều gì về những phế tích La Mã nào cả".

    Những giả thuyết của tôi ngầm tính trước hẳn là sai bét. Rõ ràng Neil rất đau khổ trước cái chết của Peter thì không thể nào là kẻ sát hại anh ấy được. Có lẽ đây chỉ là một vụ đụng xe bỏ chạy như phỏng đoán của Parry nên không cần phải điều tra gì thêm.

    Nghĩ rằng mình không còn việc gì để làm nên tôi gọi điện cho Paul.

    "Chào cưng", tôi xưng hô thân mật vì biết chắc đang ở nhà một mình.

    "Chào Matt", Paul nói với giọng khách sáo, "Em giúp được gì cho anh đây ?".

    "Anh giúp được gì cho em đây ?", tôi nhại lại câu nói ấy, "Trước hết, em hãy cởi quần dài để anh thò tay vào khu trung tâm. A... tìm thấy thứ gì mềm mềm mà nóng hổi ở đây rồi. Để anh chơi với nó một chút chừng nào mà..."

    "Lúc này em bận quá. Chuyện đó để sau đi".

    "Sờ một chút cũng không được sao !", tôi nói.

    "E rằng không được. Lúc này thì bất tiện lắm. Chính xác là anh cần gì nào ?".

    Tôi thấy thương hại cho Paul nên lựa lời kể về chuyện Neil và Peter, và về chuyện khám phá đền thờ thời La Mã.

    "Cả những người trong dự án đó không biết gì sao ?"

    "Hình như là không".

    "Vậy bây giờ anh định làm gì nào ?".

    "Để anh suy nghĩ đã. Em có về nhà sớm không ?".

    "Trời ơi, bận lắm, bận dữ lắm", Paul nói, "Chắc là em về muộn thôi".

    Tôi la lên : "Nhưng anh cần em mà".

    "Để sau đi", Paul nói. Trước khi tôi kịp hôn gió lên ống nghe thì Paul đã cúp máy.

    Như chờ đâu sẵn, ngay lúc đó có tiếng chuông điện thoại reo lên.

    "Hello", tôi nói.

    "Phải anh là Matt đó không ?".

    Một giọng đàn ông, không là thanh niên mới đúng, vì nghe giọng còn trẻ. Nhất thời tôi chưa nhận ra là ai.

    "Xin lỗi, ai vậy ?".

    "Ted đây, Ted Parry. Tôi tới chỗ anh được không ?".

    "Anh muốn gì đây ?", tôi nói một cách khiếm nhã nhưng tôi nghĩ ở nhà một mình với Ted không phải là điều hay ho gì. Có lẽ tôi có thể gặp anh ấy ở một quán rượi nào đó thì nên hơn.

    "Tôi chỉ muốn nghe anh kể chuyện đi gặp Neil Winters mà thôi".

    "Tôi nhớ anh được nghỉ phép mà", tôi nói.

    "Theo tôi, mình sẽ gặp nhau ở văn phòng làm việc của anh. Vậy nghen !"

    "OK", tôi đáp, "Lúc nào anh ghé qua vậy ?"

    Ted ngập ngừng, "Thực ra thì tôi đang ở ngoài này. Ở buồng điện thoại công cộng đối diện đây này".

    Tôi nhìn qua cửa sổ và thấy anh ta đứng trong buồn điện thoại. Parry cười thật tươi, tay đang cầm một cái túi nhựa. Parry đến còn mang theo một hộp bánh pizza và một hộp bia nhẹ 6 lon. Chúng tôi ăn uống thỏa thuê, vị bia làm mát lạnh nơi cổ.

    Sau khi ăn hết cái bánh pizza, Ted ngồi tựa lên thành sô pha trông không thoải mái lắm. Sau đó thì anh đứng dậy tợp thêm ngụm bia từ lon thứ hai, rồi đi loanh quanh trong phòng. Tôi tự hỏi không biết anh chàng này có muốn leo lên người mình hay không và nếu như vậy không biết rằng tôi có chịu hay chăng, nhất là trong không khí lãng mạn như vầy. Nhưng đi được một đổi thì Ted chợt hỏi.

    "Đây là Paul phải không ?", Ted hỏi. Chúa ơi, người đi đâu vậy ? Sao để Paul về sớm như thế ? Tôi giật mình, nhưng may thay Ted chỉ vào bức hình của Paul.

    Tôi ngẫn người, nhưng rồi chợt thấy Ted nhìn trân trối với ý đợi câu trả lời. Tôi nhận ngay ra mình chưa có sẳn câu trả lời thích hợp, "À vâng, tôi quên bẳng. Anh chưa gặp Paul lần nào, nhưng có lẽ anh nên gặp. Ai nhìn thấy cậu ấy đều mến cả".

    "Anh ấy rất quan trọng đối với anh, phải vậy không ?".

    Cho tới lúc này, cuộc đời tôi đã trải qua nhiều tình huống vui buồn, đến rồi lại đi, những người đàn ông đến và đi qua đời tôi, hết người này đến người khác. Nhưng câu hỏi của Ted đã thức tỉnh tôi, tôi nhận ra rằng Paul thật sự quan trọng, quan trọng đến mức tôi vứt cả thói quen nói dối. Tốt hơn là coi Ted như một người bạn, biết đâu cũng có ích.

    "Vâng, tôi cũng nghĩ thế", tôi trả lời ngắn gọn và khoảnh khắc im lặng đến ngay sau đó.

    Để chuyển đề tài, tôi kể cho Ted nghe về cuộc gặp gỡ với Neil Winters, về mối quan hệ giữa anh ấy với Peter, hầu như kể hết. Ted cũng kể tôi nghe về vụ tai nạn, không có gì nhiều để kể lể. Peter bị một chiếc xe đụng trúng. Có vài mảnh kính đèn trước bị vỡ và vệt sơn xanh lá dính trên cái cúc áo jacket bằng kim loại của Peter.

    "Sơn xanh sao ?".

    "Có lẽ đó là sơn từ chiếc xe đụng anh ấy. Nhưng không phải là màu xanh thông thường, đó là một loại sơn bây giờ người ta không còn sản xuất ra nữa. Người ta nói đó là màu sơn của một chiếc Volvo đời cũ".

    "Phải rồi", tôi nói, "có nó các anh có thể báo các trạm kiểm soát được mà", tôi nói mà cảm thấy buồn. Hình như là cái chết của Squires chỉ là một vụ tai nạn bỏ chạy như cảnh sát đã nghĩ, do một thằng khốn nốc quá nhiều rượu trên đường lái xe về nhà gây ra.

    "Vậy anh định làm gì bây giờ ?".

    "Tôi nghĩ, chắc là phải gặp để kể lại chuyện này cho chị Lara nghe. Chị ấy có quyền được biết.

    Đường Grandby, khi tôi rẽ vào một góc đường gần quán Granby Arms, thì gặp một gương mặt khá quen thuộc -cho dù tôi chỉ mới gặp lần đầu ngày hôm qua. Người chủ quán rượu tỏ ra thất vọng vì sẽ không có gì thay đổi nơi quán ông để hút khách. Tội nghiệp Peter, con đường phố cổ giờ này đã được an toàn nhưng anh không được tận mắt chứng kiến sự tồn tại của nó. Còn Lara, dù rằng...

    Tôi thắng gấp khi vô tình để ý thấy một việc khi đi ngang qua chỗ để xe quán Granby Arms. Người lái xe phía sau xe tôi nhận kèn inh ỏi và đưa nắm đấm nhứ nhứ vào tôi. "Xin lỗi ông", tôi nói.

    Tôi đánh xe vòng lại chạy vào bãi đỗ. Vâng, tôi đã đoán đúng. Đậu ở đây là một chiếc xe màu xanh lá và khi tôi bước ra ngoài nhìn kỹ, thì thấy đầu xe bị móp méo.

    "Lại đóng cửa nữa rồi", một người đàn ông có tuổi đang đứng nơi cửa quán rượu nói, "Họ nói sẽ mở cửa suốt ngày, nhưng sao cái quán này lại đóng cửa".

    Tôi có thể hiểu điều đó. Người chủ quán nản lòng không muốn mở cửa làm ăn vì quá ế ẩm.

    "Không biết bác có biết cái xe kia không nhỉ ?", tôi hỏi.

    Ông già liếc mắt nhìn chiếc Volvo một lúc cứ như là lần đầu tiên ông mới nhìn thấy nó. Có lẽ là thế. Sau đó, ông già gật gù nói, "Cái đó của anh chàng Peter Squires trẻ tuổi kia mà", ông nói tiếp, "tội nghiệp thằng bé, nó chết mất rồi".

    Hình như nghe chẳng lọt tai chút nào. Squires bị đụng phải bởi chiếc xe của chính mình.

    "Nhưng sáng nay cháu đâu có thấy nó", tôi nói.

    "Ừm, không có", ông già nói, "chị nó lái tới đó chứ. Chắc là chị nó ở nhà nó nên để xe ở đây. Đậu xe ngoài đường nguy hiểm lắm. Không biết cậu có tin không, chỉ đậu một lát, khi quay lại thì chẳng còn cái bánh nào". Ông già cười hềnh hệch, ra chiều đắc ý lắm.

    "Chị Lara", tôi nói, "rõ ràng là chị thừa biết mối quan hệ giữa Peter với Neil Winters mà".

    Hai người chúng tôi ngồi giữa phòng khách, nhìn ra đường. Hay ít nhất là tôi đang ngồi còn Lara thì loay hoay tìm việc để làm. Người phụ nữ này ngồi lên thành ghế bành, sau đó nhổm dậy nhặt một quyển sách hay vật gì đó rồi bỏ vào thùng giấy cứng sắp dọc theo đó. Dường như chị ấy khó mà ngồi yên được. Trông sáng nay chị ấy có vẻ hơi quẫn trí.

    "Giữa hai người đó chẳng có gì cả", chị nói, "Peter không thích chuyện đó đâu. Mà nếu như nó thích, thì nó chẳng thèm để mắt tới Winters".

    Người phụ nữ không để lộ ra cảm xúc trong lời nói của mình, tôi nhận thấy như thế, nhưng tôi có thể nhìn thấu được cảm nhận của chị khi nghĩ về Neil và Peter - dám ngủ với kẻ thù của mình, trong một hoàn cảnh khó có thể chấp nhận được.

    "Sáng nay tôi có gặp anh ta", tôi nói, "Anh ta không làm gì hại Peter cả. Anh ta yêu Peter. Hai người còn định sống chung với nhau nữa".

    Lara phủi tay như muốn xóa bỏ hết mọi thứ trong đầu mình. "Nếu vậy thì thằng Lennox làm chuyện đó", chị nói tiếp, "Nó sẽ làm bất cứ chuyện gì để công trình có thể khởi công. Nó không thể chịu đựng chi phí kéo dài để cho mấy ông khảo cổ đào bới".

    "Ông ấy cũng chẳng biết gì về chuyện đó", tôi nói, "cũng giống như sáng nay chị cũng không biết rằng tôi đã đọc lá thư gửi đến từ Giáo sư Embusy".

    "Nhà có chuyện nên tôi bối rối quá", Lara nói, nhưng rồi lại cao giọng, "Nhưng tất nhiên ông ta hẳn phải biết chuyện đó. Ông ta vốn đã muốn ngăn không cho Peter phá hoại kia mà".

    "Nhưng chuyện đâu có nằm trong tầm tay của Peter", tôi điềm nhiên nói, "Viện bảo tàng biết chuyện đó, họ mới là người có quyền. Giết Peter cũng đâu có ngăn được cuộc nghiên cứu khai quật của họ".

    "Nhưng chính họ làm đấy".

    Tôi hờ hững nói : "Lẽ nào Peter bị đụng bởi chiếc xe của chính mình".

    Lara biến sắc. Biểu hiện cảm xúc của Lara mà trước kia tôi nghĩ là suy sụp vì đau khổ, bây giờ tôi lại thấy đó là dấu hiệu phạm tội. Chị ấy liếc nhìn tôi, gương mặt lộ vẻ tuyệt vọng.

    "Làm sao cậu biết chuyện đó ?", Lara hỏi.

    "Cảnh sát tìm thấy những mảnh kính đèn xe bị vỡ, rồi cả lớp sơn chiếc Volvo dính trên cúc áo của Peter".

    Lara chỉ biết gào lên : "Ôi trời ơi".

    "Tốt hơn hết, chị hãy kể mọi việc cho tôi nghe đi", tôi nói.

    Thế là câu chuyện phơi bày. Tối qua khi nghe Neil gọi, Peter ra ngoài với Neil và Lara tới quán rượu. Chủ quán không để ý tới Lara và tôi, tất nhiên, cũng không có lý do gì cật vấn về chị ấy. Sau đó cuộc cãi vã bùng nổ, hai người cùng chạy ra ngoài quán. Lara cũng ra theo tìm thấy hai người đang âu yếm trong bãi đỗ xe. Thấy chướng mắt, và sau khi Neil ra về, thì Lara muợn xe về nhà, bỏ Peter xuống đường trước nhà anh ấy. Khi Peter rời khỏi xe bước tới trước đầu xe định mở cổng. Trong lúc còn chưa hết bực tức, chị vô tình đạp chân ga, chiếc xe trờ tới đụng phải Peter trước khi anh kịp bước lên lề đường.

    Tất nhiên Lara hết sức hoảng sợ, nhưng là người có máu lạnh mà sự việc đã rồi, đồng thời chị cũng nhận ra Peter đã chết nên chị nảy ra ý nghĩ biến vụ này thành một vụ tai nạn và trút hết tội lỗi lên bọn người đầu tư dự án phát triển kia. Đó là một kế hoạch ngu ngốc, trong lúc tuyệt vọng và sợ bị phát hiện.

    Tôi không biết người ta sẽ kết tội chị như thế nào nhưng rõ ràng là cảnh sát phải biết được chuyện này. Tôi gọi điện cho Ted.

    "Chào cưng", tôi thì thầm khi vào nhà, lúc ấy Paul đang ngồi trên sô pha, "Hôm nay làm việc thế nào rồi ?".

    "Cũng tốt", chàng trai đáp, duỗi chân dài ra và mở rộng, mời mọc thứ tôi đang cần. "Bây giờ thì anh có thể làm mọi chuyện mà anh nói sáng nay trên điện thoại".

    Nhưng lúc ấy, tôi chẳng muốn làm gì, chẳng muốn nói gì, chỉ ngồi bên cạnh ôm chàng trai vào lòng một lúc. Sau đó, tôi mới kể mọi chuyện về vụ Peter. Còn sau đó nữa thì chắc các bạn cũng đoán được chúng tôi sẽ làm gì rồi, phải không ?

    Lời kết :

    Một hai tháng sau đó, Paul cùng tôi có dịp ghé thăm Viện bảo tàng Anh Quốc. Tôi không còn tới đây khi đã lớn, còn Paul chưa từng đến bao giờ. Tôi nghĩ rằng có thêm một số di chỉ đền thờ thần Mithras nên chúng tôi tới xem. Ở phía đối diện quãng trường Russel, chúng tôi đi qua nhiều cửa hiệu buôn bán những thứ đồ cổ quý hiếm, những đồng tiền La Mã, những mảnh tượng Ai Cập. Chúng tôi lang thang mua sắm, có chỗ giá bán cũng không đắt.

    "Mình mua một đồng La Mã làm kỷ niệm đi", Paul gợi ý.

    Chúng tôi bước vào cửa hiệu. Đây là một trong những cửa hiệu vẫn còn giữ lại được kiểu dáng kiến trúc từ thời nữ hoàng Victoria. Có cái mùi cổ vật, giống như mùi ở những nhà thờ cổ lổ, và tất nhiên cũng có nhiều món được trưng bày trong tủ kính, nhiều thứ nằm rãi rác trong hộp đựng chung với những món có giá trị như hồng ngọc, quý kim. Tôi cầm một viên đá có hình dạng kỳ lạ. Tôi cố lúc lắc xem thử.

    "Đó là một mảnh của ngọn đuốc", có tiếng người nói, một cụ già lưng khòm ăn mặc theo lối cổ từ bóng tối bước ra, "thứ này người ta tìm thấy trong một cuộc khai quật di chỉ La Mã ở Ostia. Chúng tôi cho rằng ngọn đuốc được Cautes hay Cautopates cầm, là người biểu trưng cho ngày và đêm và ...

    "...đứng gác truớc cổng ra vào đền thần Mithras.", tôi nói luôn cho trọn câu.

    "Phải đấy", ông cụ vừa nói vừa mỉm cười thân mật, ông vẫn còn muốn chuyện trò. "Tôi đã để dành cho một người, người này hứa sẽ trở lại mua. Anh ta cũng có một mảnh như vậy, nhưng rất tiếc người này không hề quay lại".

    Bỗng dưng tôi thấy nhồn nhột sống lưng. Tôi nói, "Chắc là người này không cho biết tên ?".

    "Tôi lúc nào cũng ghi lại thông tin khách hàng. Đợi một chút để tôi xem lại". Ông cụ lục tìm trong một quyển sổ cái viết tay, trông cuốn sổ cũng già cỗi như ông lão. Xem xong, ông ngước lên nói.

    "Đây này, Squires, đúng rồi, Peter Squires".


    HẾT


    (1) Quasimodo : là một điển hình và là một nhân vật phản diện của quyển tiểu thuyết Thằng gù Nhà thờ Đức Bà (The Hunchback of Notre Dame) xuất bản năm 1831 (Notre Dame de Paris bằng tiếng Pháp) của Victor Hugo. Được sinh ra trong hình dạng cực kỳ xấu xí, kể cả cục bướu trên lưng, được cha phó Claude Frollo tìm thấy bị bỏ rơi trước cửa nhà thờ Đức Bà vào cái ngày Quasimodo (tên này có được sau khi người ta đặt tên cho nó), ông nhận nuôi thằng bé và mang lên tháp chuông nhà thờ Đức Bà Paris. Anh gù Quasimodo sống trốn tránh trong nhà thờ đã phải lòng nàng Melody. Anh đã dũng cảm đương đầu với tên chỉ huy cận vệ hiểm ác để cứu Melody, người bị hắn tố cáo là phù thủy khi nàng từ chối tình yêu của hắn.

    (2) Mithras : (theo MSN Encarta / Babylon / Wykipedia English) Mithras là vị thần Mặt trời của người Ba Tư, biểu trưng cho ánh sáng, sự chân thật và những điều tốt đẹp. Vị thần này thường hóa thân dưới dạng bò thiêng. Đây là một thứ tín ngưỡng người Ba Tư thờ thần Mithras. Tín ngưỡng này trở nên khá phổ biến vào khoảng thế kỷ thứ 2, thứ 1 trước công nguyên ở khu vực Địa Trung Hải, trong thời kỳ đế chế La Mã, nhất là trong quân đội La Mã.
    * Ủng hộ quảng cáo vì sự phát triển của Vietboy[dot]net.

    * Hãy bấm nút "Thanks" nếu bạn cảm thấy bài viết của ai đó có ích!


    Upload ảnh: http://img.vietboy.net

    New English site: http://boybb.net

+ Viết bài mới

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình
  •