+ Viết bài mới
Hiện kết quả từ 1 tới 5 của 5

Chủ đề: help!

  1. #1
    Tham gia ngày
    Jul 2009
    Đến từ
    Hồ CHí MInh
    Tuổi
    27
    Bài gửi
    3.371
    Thanks
    0
    Thanked 18 Times in 14 Posts
    Năng lực viết bài
    489

    Mặc định help!

    dancer cần sự giúp đỡ của những ai biết về việc Việt Nam đầu tư ở nước ngoài!
    quá trình!
    định hướng!
    chính sách
    và nhiều vấn đề khác!

  2. #2
    Tham gia ngày
    Mar 2010
    Đến từ
    Tiền Giang
    Bài gửi
    1.021
    Thanks
    0
    Thanked 3 Times in 1 Post
    Năng lực viết bài
    344

    Mặc định Re: help!

    Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch-Đầu tư, hôm 7-5 công bố báo cáo nhận định, giá trị đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam sẽ gia tăng trung bình mỗi năm khoảng 500 triệu đô la Mỹ.
    Lý do của sự gia tăng này là nhiều doanh nghiệp Việt Nam ngày càng có tiềm lực về tài chính, công nghệ để đầu tư ra nước ngoài và Chính phủ tiếp tục ban hành chính sách khuyến khích đầu tư ra nước ngoài nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiết kiệm chi phí sản xuất, chi phí vận tải và khai thác lợi thế của quá trình hội nhập.
    Tuy vậy, theo Cục Đầu tư nước ngoài, hoạt động đầu tư ra nước ngoài trong thời gian tới cần có những chính sách khuyến khích cụ thể hơn nhằm giúp doanh nghiệp khai thác lợi thế có hiệu quả, góp phần “bù đắp” những thiếu hụt cho một số lĩnh vực sản xuất quan trọng của nền kinh tế trong nước, chẳng hạn như sản xuất điện ở nước ngoài đưa về bù đắp cho thiếu hụt điện năng trong nước, khai thác một số khoáng sản phục vụ sản xuất chế biến trong nước. Các hoạt động đầu tư phát triển cũng sẽ góp phần làm thay đổi hình ảnh của Việt Nam tại nhiều quốc gia.
    Để hoạt động đầu tư ra nước ngoài có hiệu quả hơn, nhất là các dự án thực hiện mục tiêu quan trọng có tác động tích cực đến việc phát triển kinh tế của nước ta, Cục Đầu tư nước ngoài đề nghị Chính phủ có chính sách hỗ trợ về nguồn vốn như chỉ đạo các ngân hàng quốc doanh cho phép chủ đầu tư vay vốn tối thiểu 30% tổng vốn đầu tư của dự án và cho phép miễn hình thức đảm bảo tiền vay bằng tài sản, được hưởng lãi suất ưu đãi hoặc Chính phủ đứng ra bảo lãnh vốn vay của doanh nghiệp.
    Mặt khác, Cục đề nghị các ngân hàng thương mại trong nước cho vay vốn đối với các dự án đầu tư tại một số nền kinh tế đặc biệt (Lào, Campuchia, CHLB Nga) trong các lĩnh vực nêu trên và được phép cho vay vượt 15% vốn điều lệ của ngân hàng thương mại.
    Ở các lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài nhằm “bù đắp” thiếu hụt, Cục đề nghị miễn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần lợi nhuận chuyển về nước đã được nộp thuế thu nhập doanh nghiệp tại nước sở tại, ví dụ như tại Lào và Campuchia.
    Ngoài ra, Cục đề nghị các khoản viện trợ, hỗ trợ của Việt Nam cho một số nước như Lào, Campuchia cần gắn chặt và tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư của doanh nghiệp; ví dụ như hỗ trợ đào tạo nghề phải gắn với các lĩnh vực đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam tại Lào, Campuchia…
    Năm 2009, các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài khoảng 1,65 tỉ đô la Mỹ với 49 dự án, đưa tổng vốn đầu tư ra nước ngoài từ trước đến nay lên 6,68 tỉ đô la. Có 164 trong 418 dự án đã và đang thực hiện tại Lào và chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp.



    [--Auto Merged--]

    DN cần cẩn trọng khi đầu tư ra nước ngoài Thứ bảy, 8/5/2010, 12:07 GMT+7 Các doanh nghiệp Việt Nam đang xâm nhập và mở rộng thị trường đầu tư ra nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, các nhà chuyên môn khuyến cáo: Bên cạnh những thuận lợi, các doanh nghiệp cần cẩn trọng hơn khi “bành trướng” đồng vốn của mình.

    * Chuyện trò trực tiếp cùng giới đầu tư

    Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến hết năm 2009 vốn đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam đạt 7,73 tỷ USD với 465 dự án tại 51 quốc gia và vùng lãnh thổ, bằng 145% kế hoạch và bằng 215% cả giai đoạn đầu tư ra nước ngoài từ năm 1989 - 2008.
    Trong 4 tháng đầu năm 2010 đã có 38 dự án đầu tư ra nước ngoài được cấp mới với tổng vốn khoảng 170 triệu USD.
    Ngoài thị trường truyền thống là Lào, các quốc gia được doanh nghiệp Việt Nam quan tâm nhiều là Liên bang Nga 17 dự án với số vốn 14,71 tỷ USD; Malaysia 6 dự án với 811 triệu USD. Ngoài ra còn có Campuchia, Algeria, Hoa Kỳ, Cuba...
    Xét về số lượng dự án, lĩnh vực được các nhà đầu tư Việt Nam quan tâm nhiều nhất tại các nước ngoài là công nghiệp chế biến, chế tạo với 102 dự án, kế đến là các lĩnh vực khai khoáng, hoạt động chuyên môn và khoa học công nghệ.
    Tuy nhiên, nếu xét về nguồn vốn đầu tư, khai khoáng là lĩnh vực chiếm ưu thế nhất với 3,58 tỷ USD và 75 dự án; nghệ thuật giải trí 1,12 tỷ USD (3 dự án); nông lâm nghiệp thủy sản 984,6 triệu USD (49 dự án)...
    Từ kết quả đạt được, Cục Đầu tư nước ngoài (FIA) dự báo số vốn đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam năm 2010 chắc chắn sẽ tăng so với năm 2009. FIA nêu ra một số thuận lợi: Từ đầu năm đến nay Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách mới về đầu tư ra nước ngoài nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiết kiệm chi phí sản xuất, vận chuyển. Trong khi đó, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các doanh nghiệp Việt Nam đã có sự phát triển nhất định về tiềm lực tài chính, công nghệ để đầu tư ra nước ngoài. Hiện có một số dự án đầu tư ra nước ngoài lớn của các doanh nghiệp Việt Nam và đang trong quá trình đàm phán, nếu thành công sẽ có một lượng vốn rất lớn đăng ký đầu tư trong năm nay, hứa hẹn nhiều bất ngờ, đặc biệt là trong lĩnh vực khai khoáng, trồng cây công nghiệp và các sản phẩm nông nghiệp.
    Bên cạnh việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý, chính sách về đầu tư ra nước ngoài, một trong những giải pháp được Thủ tướng Chính phủ đặc biệt lưu ý là cải tiến thủ tục hành chính, mở rộng diện dự án đăng ký, giảm sự can thiệp bằng các biện pháp hành chính ngay cả đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước; tăng quyền chủ động, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp. Thủ tướng yêu cầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng danh mục các địa bàn trọng điểm khuyến khích đầu tư ra nước ngoài cùng chính sách ưu đãi và chế độ hỗ trợ đi kèm; phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xây dựng các chương trình xúc tiến đầu tư ra nước ngoài phù hợp với đặc thù của từng địa bàn, đưa nội dung xúc tiến đầu tư ra nước ngoài thành một nội dung của Chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia.
    Bộ Tài chính được giao nhiệm vụ xây dựng, ban hành cơ chế ưu đãi hỗ trợ tài chính, tín dụng đầu tư đối với các doanh nghiệp Việt Nam và các dự án đầu tư một số địa bàn trọng điểm, trình Thủ tướng trong năm nay.
    Cũng theo đề án này, hàng năm sẽ tổ chức gặp mặt các nhà đầu tư Việt Nam tại nước sở tại, đồng thời hỗ trợ thành lập Hiệp hội Doanh nghiệp Việt Nam nhằm phát triển đầu tư của doanh nhân người Việt Nam.
    Mở rộng thị trường truyền thống
    Trong năm 2010, các thị trường truyền thống như Lào, Campuchia, Nga, Malaysia, Algeria... vẫn là điểm đến đầu tư thu hút các doanh nghiệp trong nước.
    Bên cạnh việc đầu tư vào các lĩnh vực khai khoáng, trồng rừng, thủy điện, viễn thông, xây dựng hạ tầng... ở các quốc gia này, gần đây các doanh nghiệp Việt Nam còn hướng đến các lĩnh vực như hàng không, ngân hàng, bảo hiểm...
    Hợp đồng liên doanh thành lập Hãng Hàng không quốc gia Campuchia (Cambodia Angkor Air - CAA) được ký kết giữa Vietnam Airlines (VNA) và các đối tác Campuchia cho thấy một lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài mới của Việt Nam. Đây là liên doanh có vốn đầu tư lên đến 100 triệu USD, Chính phủ Campuchia góp 51% vốn, VNA góp 49% vốn. CTCP Đầu tư Sài Gòn (SGI) cũng là một trong những nhà đầu tư lớn của Việt Nam tại Lào. Hai dự án thủy điện mà SGI đầu tư là Nậm Ngum 4, công suất 200MW và Nậm Sum, công suất 280 MW có tổng đầu tư 800 triệu USD. SGI cũng là chủ đầu tư một khách sạn 4 sao ở Sầm Nưa, vốn 5 triệu USD giai đoạn 1.
    Ông Đoàn Nguyên Đức, Chủ tịch HĐQT CTCP Hoàng Anh Gia Lai, nhận định cơ hội đầu tư tại Lào còn rất nhiều vì Lào là nước đang phát triển, rất phù hợp với các doanh nghiệp trong nước. Hoàng Anh Gia Lai đã đầu tư xây dựng trung tâm thương mại, căn hộ, văn phòng cho thuê; nhà máy chế biến gỗ, trồng cây cao su; xây nhà máy thủy điện, dự án mỏ sắt và đồng... với tổng vốn lên đến 260 triệu USD.
    Ông Trần Bắc Hà, Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), cho biết sẽ đề xuất Hãng Hàng không quốc gia Việt Nam sớm đàm phán hợp tác liên doanh với Hàng Hàng không quốc gia Lào, như đã liên doanh với Hàng không quốc gia Campuchia mới đây, nhằm đẩy mạnh hoạt động của hãng này.
    Mới đây BIDV đã chính thức công bố sự hiện diện của mình với việc hình thành các pháp nhân mới tại xứ sở chùa Tháp thông qua việc thành lập Công ty Đầu tư và Phát triển Campuchia (IDCC).
    Hiện nay nhiều ngân hàng Việt Nam đã mở chi nhánh tại các nước có dự án đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam, giúp các doanh nghiệp yên tâm hơn khi đầu tư tại nước ngoài.
    Định hình mục tiêu đầu tư
    Qua thực tế gần 20 năm, các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài có nhiều thuận lợi nhưng cũng gặp không ít khó khăn, thách thức. Về mặt thuận lợi, các doanh nghiệp Việt Nam đang trưởng thành từng bước về năng lực tài chính, trình độ công nghệ - kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý, đầu tư. Do đó việc xin phép đầu tư và triển khai các dự án bước đầu có hiệu quả.
    Tuy nhiên, theo các chuyên gia của FIA, số lượng dự án và quy mô vốn đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam còn nhỏ do tiềm lực tài chính hạn chế. Thêm vào đó, các doanh nghiệp chỉ mới bước qua giai đoạn thăm dò, nên hiệu quả hoạt động còn thấp; công tác dự báo thị trường thế giới cũng chưa tốt để giúp doanh nghiệp định hướng đầu tư...
    Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam so với các nước khác như Trung Quốc, Thái Lan... còn yếu, do đó số lượng dự án và quy mô đầu tư nhỏ. Hoạt động của các doanh nghiệp này tại các nước tiếp nhận đầu tư còn lẻ tẻ, manh mún, chưa có tiếng nói chung.
    Để thúc đẩy hiệu quả hoạt động đầu tư ra nước ngoài, không chỉ cần những chính sách khuyến khích, tạo môi trường đầu tư trong nước và nước sở tại, mà cần cả sự nỗ lực tự thân mỗi doanh nghiệp. Đó là sự nhanh nhạy trong việc cập nhật thông tin, chọn lựa nước đầu tư và ngành đầu tư hiệu quả với thế mạnh của doanh nghiệp, tăng cường trình độ quản lý, tích luỹ nguồn lực và sử dụng hiệu quả đội ngũ lao động.
    Trong thời điểm hiện nay, các doanh nghiệp nên tận dụng cơ hội khi một số nền kinh tế bị ảnh hưởng do biến động kinh tế thế giới để đẩy mạnh đầu tư sang một số thị trường mới.
    Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra một số khuyến cáo đối với các doanh nghiệp có ý định mở rộng hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh ra nước ngoài.
    Cụ thể: Các doanh nghiệp cần lập dự án có tính khả thi cao, đảm bảo cân đối hợp lý khả năng tài chính; chuẩn bị kỹ từ khâu nghiên cứu thị trường, chính sách pháp luật, tập quán, thói quen tiêu dùng, các tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh an toàn thực phẩm.
    Đặc biệt, các doanh nghiệp Việt Nam cần nghiên cứu kỹ chính sách thuế, phí, thanh toán, tập quán và thói quen tiêu dùng, các quy định xuất nhập khẩu ở nước sở tại, tránh dính dáng đến tranh chấp, kiện tụng ở nước ngoài.(Nguồn: Tổ Quốc, 8/5)

    [--Auto Merged--]

    DN cần cẩn trọng khi đầu tư ra nước ngoài Thứ bảy, 8/5/2010, 12:07 GMT+7 Các doanh nghiệp Việt Nam đang xâm nhập và mở rộng thị trường đầu tư ra nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, các nhà chuyên môn khuyến cáo: Bên cạnh những thuận lợi, các doanh nghiệp cần cẩn trọng hơn khi “bành trướng” đồng vốn của mình.

    * Chuyện trò trực tiếp cùng giới đầu tư

    Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến hết năm 2009 vốn đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam đạt 7,73 tỷ USD với 465 dự án tại 51 quốc gia và vùng lãnh thổ, bằng 145% kế hoạch và bằng 215% cả giai đoạn đầu tư ra nước ngoài từ năm 1989 - 2008.
    Trong 4 tháng đầu năm 2010 đã có 38 dự án đầu tư ra nước ngoài được cấp mới với tổng vốn khoảng 170 triệu USD.
    Ngoài thị trường truyền thống là Lào, các quốc gia được doanh nghiệp Việt Nam quan tâm nhiều là Liên bang Nga 17 dự án với số vốn 14,71 tỷ USD; Malaysia 6 dự án với 811 triệu USD. Ngoài ra còn có Campuchia, Algeria, Hoa Kỳ, Cuba...
    Xét về số lượng dự án, lĩnh vực được các nhà đầu tư Việt Nam quan tâm nhiều nhất tại các nước ngoài là công nghiệp chế biến, chế tạo với 102 dự án, kế đến là các lĩnh vực khai khoáng, hoạt động chuyên môn và khoa học công nghệ.
    Tuy nhiên, nếu xét về nguồn vốn đầu tư, khai khoáng là lĩnh vực chiếm ưu thế nhất với 3,58 tỷ USD và 75 dự án; nghệ thuật giải trí 1,12 tỷ USD (3 dự án); nông lâm nghiệp thủy sản 984,6 triệu USD (49 dự án)...
    Từ kết quả đạt được, Cục Đầu tư nước ngoài (FIA) dự báo số vốn đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam năm 2010 chắc chắn sẽ tăng so với năm 2009. FIA nêu ra một số thuận lợi: Từ đầu năm đến nay Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách mới về đầu tư ra nước ngoài nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiết kiệm chi phí sản xuất, vận chuyển. Trong khi đó, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các doanh nghiệp Việt Nam đã có sự phát triển nhất định về tiềm lực tài chính, công nghệ để đầu tư ra nước ngoài. Hiện có một số dự án đầu tư ra nước ngoài lớn của các doanh nghiệp Việt Nam và đang trong quá trình đàm phán, nếu thành công sẽ có một lượng vốn rất lớn đăng ký đầu tư trong năm nay, hứa hẹn nhiều bất ngờ, đặc biệt là trong lĩnh vực khai khoáng, trồng cây công nghiệp và các sản phẩm nông nghiệp.
    Bên cạnh việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý, chính sách về đầu tư ra nước ngoài, một trong những giải pháp được Thủ tướng Chính phủ đặc biệt lưu ý là cải tiến thủ tục hành chính, mở rộng diện dự án đăng ký, giảm sự can thiệp bằng các biện pháp hành chính ngay cả đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước; tăng quyền chủ động, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp. Thủ tướng yêu cầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng danh mục các địa bàn trọng điểm khuyến khích đầu tư ra nước ngoài cùng chính sách ưu đãi và chế độ hỗ trợ đi kèm; phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xây dựng các chương trình xúc tiến đầu tư ra nước ngoài phù hợp với đặc thù của từng địa bàn, đưa nội dung xúc tiến đầu tư ra nước ngoài thành một nội dung của Chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia.
    Bộ Tài chính được giao nhiệm vụ xây dựng, ban hành cơ chế ưu đãi hỗ trợ tài chính, tín dụng đầu tư đối với các doanh nghiệp Việt Nam và các dự án đầu tư một số địa bàn trọng điểm, trình Thủ tướng trong năm nay.
    Cũng theo đề án này, hàng năm sẽ tổ chức gặp mặt các nhà đầu tư Việt Nam tại nước sở tại, đồng thời hỗ trợ thành lập Hiệp hội Doanh nghiệp Việt Nam nhằm phát triển đầu tư của doanh nhân người Việt Nam.
    Mở rộng thị trường truyền thống
    Trong năm 2010, các thị trường truyền thống như Lào, Campuchia, Nga, Malaysia, Algeria... vẫn là điểm đến đầu tư thu hút các doanh nghiệp trong nước.
    Bên cạnh việc đầu tư vào các lĩnh vực khai khoáng, trồng rừng, thủy điện, viễn thông, xây dựng hạ tầng... ở các quốc gia này, gần đây các doanh nghiệp Việt Nam còn hướng đến các lĩnh vực như hàng không, ngân hàng, bảo hiểm...
    Hợp đồng liên doanh thành lập Hãng Hàng không quốc gia Campuchia (Cambodia Angkor Air - CAA) được ký kết giữa Vietnam Airlines (VNA) và các đối tác Campuchia cho thấy một lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài mới của Việt Nam. Đây là liên doanh có vốn đầu tư lên đến 100 triệu USD, Chính phủ Campuchia góp 51% vốn, VNA góp 49% vốn. CTCP Đầu tư Sài Gòn (SGI) cũng là một trong những nhà đầu tư lớn của Việt Nam tại Lào. Hai dự án thủy điện mà SGI đầu tư là Nậm Ngum 4, công suất 200MW và Nậm Sum, công suất 280 MW có tổng đầu tư 800 triệu USD. SGI cũng là chủ đầu tư một khách sạn 4 sao ở Sầm Nưa, vốn 5 triệu USD giai đoạn 1.
    Ông Đoàn Nguyên Đức, Chủ tịch HĐQT CTCP Hoàng Anh Gia Lai, nhận định cơ hội đầu tư tại Lào còn rất nhiều vì Lào là nước đang phát triển, rất phù hợp với các doanh nghiệp trong nước. Hoàng Anh Gia Lai đã đầu tư xây dựng trung tâm thương mại, căn hộ, văn phòng cho thuê; nhà máy chế biến gỗ, trồng cây cao su; xây nhà máy thủy điện, dự án mỏ sắt và đồng... với tổng vốn lên đến 260 triệu USD.
    Ông Trần Bắc Hà, Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), cho biết sẽ đề xuất Hãng Hàng không quốc gia Việt Nam sớm đàm phán hợp tác liên doanh với Hàng Hàng không quốc gia Lào, như đã liên doanh với Hàng không quốc gia Campuchia mới đây, nhằm đẩy mạnh hoạt động của hãng này.
    Mới đây BIDV đã chính thức công bố sự hiện diện của mình với việc hình thành các pháp nhân mới tại xứ sở chùa Tháp thông qua việc thành lập Công ty Đầu tư và Phát triển Campuchia (IDCC).
    Hiện nay nhiều ngân hàng Việt Nam đã mở chi nhánh tại các nước có dự án đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam, giúp các doanh nghiệp yên tâm hơn khi đầu tư tại nước ngoài.
    Định hình mục tiêu đầu tư
    Qua thực tế gần 20 năm, các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài có nhiều thuận lợi nhưng cũng gặp không ít khó khăn, thách thức. Về mặt thuận lợi, các doanh nghiệp Việt Nam đang trưởng thành từng bước về năng lực tài chính, trình độ công nghệ - kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý, đầu tư. Do đó việc xin phép đầu tư và triển khai các dự án bước đầu có hiệu quả.
    Tuy nhiên, theo các chuyên gia của FIA, số lượng dự án và quy mô vốn đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam còn nhỏ do tiềm lực tài chính hạn chế. Thêm vào đó, các doanh nghiệp chỉ mới bước qua giai đoạn thăm dò, nên hiệu quả hoạt động còn thấp; công tác dự báo thị trường thế giới cũng chưa tốt để giúp doanh nghiệp định hướng đầu tư...
    Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam so với các nước khác như Trung Quốc, Thái Lan... còn yếu, do đó số lượng dự án và quy mô đầu tư nhỏ. Hoạt động của các doanh nghiệp này tại các nước tiếp nhận đầu tư còn lẻ tẻ, manh mún, chưa có tiếng nói chung.
    Để thúc đẩy hiệu quả hoạt động đầu tư ra nước ngoài, không chỉ cần những chính sách khuyến khích, tạo môi trường đầu tư trong nước và nước sở tại, mà cần cả sự nỗ lực tự thân mỗi doanh nghiệp. Đó là sự nhanh nhạy trong việc cập nhật thông tin, chọn lựa nước đầu tư và ngành đầu tư hiệu quả với thế mạnh của doanh nghiệp, tăng cường trình độ quản lý, tích luỹ nguồn lực và sử dụng hiệu quả đội ngũ lao động.
    Trong thời điểm hiện nay, các doanh nghiệp nên tận dụng cơ hội khi một số nền kinh tế bị ảnh hưởng do biến động kinh tế thế giới để đẩy mạnh đầu tư sang một số thị trường mới.
    Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra một số khuyến cáo đối với các doanh nghiệp có ý định mở rộng hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh ra nước ngoài.
    Cụ thể: Các doanh nghiệp cần lập dự án có tính khả thi cao, đảm bảo cân đối hợp lý khả năng tài chính; chuẩn bị kỹ từ khâu nghiên cứu thị trường, chính sách pháp luật, tập quán, thói quen tiêu dùng, các tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh an toàn thực phẩm.
    Đặc biệt, các doanh nghiệp Việt Nam cần nghiên cứu kỹ chính sách thuế, phí, thanh toán, tập quán và thói quen tiêu dùng, các quy định xuất nhập khẩu ở nước sở tại, tránh dính dáng đến tranh chấp, kiện tụng ở nước ngoài.(Nguồn: Tổ Quốc, 8/5)

    [--Auto Merged--]

    Đầu tư ra nước ngoài được miễn thuế giá trị gia tăng Thứ năm, 21/1/2010, 16:32 GMT+7 Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 11-2010, hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà đầu tư Việt Nam ra nước ngoài. Theo đó, các doanh nghiệp này vẫn phải nộp thuế xuất, nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp nhưng được miễn thuế giá trị gia tăng.
    Thông tư ghi rõ, về thuế xuất, nhập khẩu thì doanh nghiệp phải đóng như Luật thuế xuất, nhập khẩu hiện hành, tính cả máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu do nhà đầu tư xuất ra nước ngoài để tạo tài sản cố định của dự án. Đối với các trường hợp tạm nhập, tái xuất vẫn phải nộp thuế và sau đó hoàn thuế khi quay về.
    Doanh nghiệp cũng phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) từ các hoạt động đầu tư này, thực hiện theo quy định của Hiệp định tránh đánh thuế hai lần nếu Việt Nam và nước đầu tư có ký kết phần này. Như vậy, mức thuế suất thuế TNDN để tính và khai thuế đối với các khoản thu nhập từ nước ngoài là 25%, không áp thuế suất ưu đãi (nếu có) mà doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài đang được hưởng theo Luật thuế TNDN hiện hành. Cũng để tránh đánh thuế hai lần, phần thuế TNDN phải nộp tại Việt Nam sẽ được khấu trừ tương đương phần thuế cùng loại đã nộp tại nước đầu tư.
    Trường hợp dự án đầu tư tại nước ngoài chưa phát sinh thu nhập chịu thuế (hoặc đang phát sinh lỗ), khi kê khai quyết toán thuế TNDN hàng năm, doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài chỉ phải nộp báo cáo tài chính có xác nhận của cơ quan kiểm toán độc lập hoặc của cơ quan có thẩm quyền của nước doanh nghiệp đầu tư và tờ khai thuế thu nhập của dự án đầu tư tại nước ngoài. Số lỗ phát sinh từ dự án đầu tư ở nước ngoài không được trừ vào số thu nhập phát sinh của doanh nghiệp trong nước khi tính thuế TNDN.
    Doanh nghiệp chỉ được miễn thuế giá trị gia tăng (GTGT) đầu vào khi có hàng hóa xuất khẩu đến nước đầu tư. Thông tư này có hiệu lực sau 45 ngày, kể từ ngày 19-1.
    Năm 2009, các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài đạt 7,2 tỉ đô la Mỹ, với 457 dự án tại hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ, bằng 143% kế hoạch và 214% cả quá trình đầu tư ra nước ngoài từ năm 1989 đến năm 2008. (Nguồn: TBKTSG, 21/1)

    [--Auto Merged--]

    Bộ KH&ĐT: Đầu tư ra nước ngoài đem lại hiệu quả tích cực Thứ hai, 21/9/2009, 09:07 GMT+7 Theo ông Phan Hữu Thắng, Cục trưởng Cục Đầu tư Nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam tại nước ngoài đang diễn ra khá tích cực.
    Sự tăng trưởng nhanh chóng của các hoạt động đầu tư ra nước ngoài thời gian gần đây là sự phát triển khách quan, phù hợp với sự phát triển kinh tế trong nước cũng như tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
    Số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, hầu hết các doanh nghiệp sau khi được cấp giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài đã được triển khai thực hiện, trong đó có nhiều doanh nghiệp đã đi vào hoạt động có hiệu quả, đồng thời thúc đẩy các hoạt động xuất khẩu và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam tại Lào, Campuchia, Mỹ, châu Âu, Nhật Bản…
    Đến nay, Việt Nam có trên 440 dự án đầu tư tại 49 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 6,8 tỷ USD. Riêng 8 tháng của năm 2009, tổng vốn đăng ký đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài đạt trên 2,1 tỷ USD, chiếm 20,8% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài từ trước đến nay.
    Vốn thực hiện của các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài cũng đã đạt trên 1,5 tỷ USD. Kết quả này cũng cho thấy, doanh nghiệp Việt Nam đã có sự trưởng thành vượt bậc trong thời gian qua và thể hiện, đầu tư ra nước ngoài không những không làm phân tán nguồn lực mà ngược lại đã đem lại những hiệu quả rất tích cực.
    Tuy nhiên theo ông Thắng, đây mới là sự khởi đầu bởi tiềm năng hợp tác đầu tư ra nước ngoài là rất lớn. Hiện nay, đầu tư ra nước ngoài đang gặp những thuận lợi hơn bao giờ hết.
    Cuộc khủng hoảng kinh tế mặc dù đã có tác động tiêu cực đến hoạt động của doanh nghiệp nhưng cũng mở ra nhiều cơ hội mới để doanh nghiệp Việt Nam có điều kiện tiếp cận, đầu tư vào thị trường các nước cũng như các lĩnh vực mà trước đây chúng ta khó có thể tiếp cận được.
    Tuy nhiên, việc đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam hiện cũng đang gặp những khó khăn cũng như tồn tại như tiềm lực tài chính còn yếu, chưa thể đầu tư lớn cũng như tạo ra được giá trị gia tăng lớn trong tương lai gần.
    Doanh nghiệp Việt Nam chưa nắm vững luật pháp của nước ngoài, dễ dẫn đến những rủi ro trong đầu tư, kinh doanh tại nước sở tại.
    Các doanh nghiệp Việt Nam chưa có sự liên kết chặt chẽ với nhau trong quá trình đầu tư, kinh doanh tại nước sở tại nên hoạt động thường đơn lẻ, khó làm ăn lớn và đôi khi còn có xung đột về lợi ích của nhau.
    Ông Thắng cho biết, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm tăng cường hơn nữa các hoạt động đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài trong thời gian tới cũng như tăng cường các biện pháp, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài.
    Do vậy, bên cạnh việc tiếp tục khai thác và phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế Việt Nam trong đầu tư vào các thị trường truyền thống như Lào, Campuchia, các nước trong khu vực, Liên bang Nga..., Bộ Kế hoạch và Đầu tư khuyến nghị các doanh nghiệp từng bước mở rộng đầu tư sang các nước và thị trường mới như Mỹ Latinh, Đông Âu, Châu Phi...
    Bộ ưu tiên và khuyến khích đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực năng lượng, sản xuất điện năng, khai thác tài nguyên thiên nhiên (đặc biệt chú trọng các lĩnh vực thăm dò khai thác dầu khí và khoáng sản khác), lĩnh vực trồng cây công nghiệp.(Nguồn: TTX, 21/9)

    [--Auto Merged--]

    Thủ tục đâu tư:
    Trong tình hình VN đối phó suy giảm kinh tế, các doanh nghiệp VN được chính phủ khuyến khích đầu tư ra nước ngoài. Theo đó, thủ tục đầu tư ra nước ngoài được quy định như dưới đây.
    1. Cơ sở pháp lý:

    - Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
    - Luật Đầu tư năm 2005.
    - Luật của nước tiếp nhận đầu tư
    - Nghị định 108/2006/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 22/09/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Đầu Tư.
    2. Điều kiện đầu tư ra nước ngoài:

    Theo quy định tại điều 76 Luật Đầu tư Để được đầu tư ra nước ngoài theo hình thức đầu tư trực tiếp, nhà đầu tư phải có các điều kiện sau đây:
    - Có dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
    - Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam.
    - Tuân thủ các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng vốn nhà nước đối với các trường hợp sử dụng vốn nhà nước để đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
    - Được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng nhận đầu tư.
    3. Cơ quan thụ lý:

    Nhà đầu tư làm thủ tục đầu tư tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cụ thể tại Cục Đầu tư Nước ngoài- Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
    4.Quy trình cấp giấy chứng nhận đầu tư:

    4.1. Đối với dự án đầu tư có quy mô vốn đầu tư dưới 15 tỷ đồng Việt Nam

    a) Hồ sơ dự án đầu tư gồm:

    - Dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
    - Văn bản đăng ký dự án đầu tư.
    - Bản sao có công chứng: Giấy chứng nhận đầu tư; hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; hoặc Giấy chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu; hoặc Giấy phép đầu tư.
    - Hợp đồng hoặc văn bản thỏa thuận với đối tác về việc góp vốn hoặc mua cổ phần hoặc hợp tác đầu tư đối với dự án đầu tư có đối tác khác cùng tham gia đầu tư.
    - Văn bản đồng ý của Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng cổ đông về việc đầu tư trực tiếp ra nước.

    b) Thủ tục đăng ký và thời gian cấp Giấy chứng nhận đầu tư:

    - Hồ sơ: 03 bộ (có 01 bộ hồ sơ gốc)
    - Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có văn bản đề nghị nhà đầu tư giải trình về nội dung cần phải được làm rõ (nếu có).
    - Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng nhận đầu tư, đồng thời sao gửi các Bộ, ngành và địa phương liên quan.
    - Trường hợp hồ sơ dự án đầu tư không được chấp thuận, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có văn bản thông báo và nêu rõ lý do gửi nhà đầu tư.
    4.2. Đối với dự án đầu tư có quy mô vốn đầu tư từ 15 tỷ đồng Việt Nam trở lên

    a) Hồ sơ dự án đầu tư gồm:

    - Dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
    - Văn bản đề nghị thẩm tra dự án đầu tư.
    - Bản sao có công chứng: Giấy chứng nhận đầu tư; hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; hoặc Giấy chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu; hoặc Giấy phép đầu tư.
    - Văn bản giải trình về dự án đầu tư gồm các nội dung sau: mục tiêu đầu tư; địa điểm đầu tư; quy mô vốn đầu tư; nguồn vốn đầu tư; việc sử dụng lao động Việt Nam (nếu có); việc sử dụng nguyên liệu từ Việt Nam (nếu có); tiến độ thực hiện dự án đầu tư.
    - Hợp đồng hoặc bản thỏa thuận với đối tác về việc góp vốn hoặc mua cổ phần hoặc cùng hợp tác đầu tư đối với trường hợp có đối tác khác cùng tham gia đầu tư.
    - Văn bản đồng ý của Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng cổ đông về việc đầu tư ra nước ngoài.

    b) Thời gian thẩm tra cấp Giấy chứng nhận đầu tư:

    - Đối với các dự án đầu tư phải được sự chấp thuận đầu tư của Thủ tướng Chính phủ:
    Trong thời hạn 25 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Thủ tướng Chính phủ ý kiến thẩm định bằng văn bản kèm theo hồ sơ dự án đầu tư và ý kiến bằng văn bản của các cơ quan có liên quan để Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
    Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được ý kiến chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng nhận đầu tư.

    - Đối với các dự án đầu tư không quy định phải được sự chấp thuận đầu tư của Thủ tướng Chính phủ:
    Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng nhận đầu tư.

    Nếu có bất kỳ thắc mắc gì về thủ tục pháp lý để đầu tư ra nước ngoài hoặc về các vấn đề khác, quý khách vui lòng liên lạc với chúng tôi.
    MNXQ®
    Tình chỉ đẹp khi quần chưa cởi..quần cởi rùi mổi đứa 1 nơi

    ĐẠI CA YÊU TINH HỘI

  3. #3
    Tham gia ngày
    Mar 2010
    Đến từ
    Tiền Giang
    Bài gửi
    1.021
    Thanks
    0
    Thanked 3 Times in 1 Post
    Năng lực viết bài
    344

    Mặc định Re: help!

    ính đến hết năm 2007, qua 16 năm thực hiện ĐTRNN, Việt Nam có 265 dự án ĐTRNN còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư 2,006 tỷ USD, vốn thực hiện đạt khoảng 800 triệu USD, chiếm 40% tổng vốn ĐTRNN. Quy mô vốn đầu tư bình quân đạt 7,5 triệu USD/dự án. Qua từng giai đoạn, quy mô vốn đầu tư đã tăng dần, điều này cho thấy tác động tích cực của khuôn khổ pháp lý đối với hoạt động ĐTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam; cũng như sự trưởng thành về mọi mặt của doanh nghiệp nhà nước tham gia vào hoạt động ĐTRNN. Trong giai đoạn 1989-1998, trước khi ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ-CP nói trên, có 18 dự án ĐTRNN với tổng vốn đăng ký trên 13,6 triệu USD; quy mô vốn đầu tư bình quân đạt 0,76 triệu USD/dự án.
    Trong thời kỳ 1999-2005 sau khi ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ-CP, có 131 dự án ĐTRNN với tổng vốn đăng ký đạt 731,4 triệu USD, gấp 7 lần về số dự án và gấp 53 lần về tổng vốn đầu tư đăng ký so với thời kỳ 1989-1998; quy mô vốn đầu tư bình quân đạt 5,58 triệu USD/dự án, cao hơn giai đoạn 1989-1998.
    Từ năm 2006 tới hết năm 2007 (thi hành Nghị định số 78/2006/NĐ-CP) có 116 dự án ĐTRNN với tổng vốn đăng ký đạt trên 1,26 tỷ USD; tuy chỉ bằng 88% về số dự án, nhưng tăng 72,4% về tổng vốn đầu tư đăng ký so với giai đoạn 1999-2005; quy mô vốn đầu tư bình quân đạt 10,8 triệu USD/dự án, cao hơn thời kỳ 1999-2005.
    a) ĐTRNN phân theo ngành:
    Các doanh nghiệp Việt Nam ĐTRNN tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp (113 dự án, tổng vốn đầu tư là 1,5 tỷ USD) chiếm 42,6% về số dự án và 75% tổng vốn đăng ký ĐTRNN. Trong đó, có một số dự án quy mô vốn đầu tư trên 100 triệu USD, như: Công ty cổ phần đầu tư và phát triển điện Việt-Lào đầu tư 2 dự án: Thủy điện Xekaman 1, tổng vốn đầu tư 441,6 triệu USD và) Thủy điện Xekaman 3, tổng vốn đầu tư 273 triệu USD. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đầu tư 243 triệu USD thăm dò khai thác dầu khí tại Angiêri . Công ty Đầu tư phát triển dầu khí đầu tư 2 dự án thăm dò khai thác dầu khí tại Madagascar (vốn 117,36 triệu USD) và tại I Rắc (vốn 100 triệu USD).
    Tiếp theo là lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp (53 dự án, tổng vốn đăng ký ĐTRNN là 286 triệu USD) chiếm 20% về số dự án và 14,26% tổng vốn đăng ký ĐTRNN. Trong đó, đa số là dự án đầu tư trồng cao su, cây công nghiệp tại Lào với một số dự án quy mô lớn như: Công ty cổ phần cao su Dầu Tiếng Việt -Lào, vốn đầu tư 81,9 triệu USD; Công ty cao su Đắc Lắc, vốn đầu tư 32,3 triệu USD; Công ty cổ phần cao su Việt-Lào, vốn đầu tư 25,5 triệu USD.
    Lĩnh vực dịch vụ (99 dự án ĐTRNN, tổng vốn đăng ký ĐTRNN là 215,5 triệu USD) chiếm 37,3% về số dự án và 10,7% tổng vốn đăng ký ĐTRNN. Trong đó, có một số dự án lớn như: Công ty viễn thông quân đội Viettel đầu tư 27 triệu USD tại Campuchia để khai thác mạng viễn thông di động, Công ty cổ phần đầu tư Việt Sô đầu tư 35 triệu USD để xây dựng Trung tâm thương mại, văn phòng cho thuê tại Moscow-Liên bang Nga, Công ty dịch vụ kỹ thuật dầu khí đầu tư 21 triệu USD tại Singapore để đóng mới tàu chở dầu.... Còn lại là các dự án có quy mô vừa và nhỏ đầu tư vào các địa bàn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc....
    b) ĐTRNN phân theo đối tác:
    Các doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư tại 37 quốc gia và vùng lãnh thổ, nhưng chủ yếu tại: Châu Á (180 dự án, tổng vốn đầu tư là 1,3 tỷ USD), chiếm 68% về số dự án và 65% tổng vốn đầu tư đăng ký, trong đó, tập trung đầu tư sản xuất điện- khai thác khoáng sản, trồng cao su tại Lào (98 dự án, tổng vốn đầu tư là 1,04 tỷ USD), chiếm 37% về số dự án và 51,8% tổng vốn đầu tư đăng ký. Châu Phi có 2 dự án thăm dò, khai thác dầu khí của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, chiếm 18% tổng vốn đầu tư đăng ký (1 dự án đầu tư 243 triệu USD tại Angiêri sau giai đoạn thăm dò, thẩm lượng dự án đã phát hiện có dầu và khí ga và 1 dự án đầu tư 117,36 triệu USD tại Madagasca hiện có kết quả khả quan). Châu Âu có 36 dự án, tổng vốn đầu tư là 100,5 triệu USD, chiếm 13,5% về số dự án và khoảng 5% tổng vốn đầu tư đăng ký, trong đó, Liên bang Nga có 12 dự án, tổng vốn đầu tư là 78 triệu USD.
    c) Tình hình thực hiện dự án ĐTRNN:
    Tính đến hết năm 2007, các dự án ĐTRNN đã giải ngân vốn khoảng 800 triệu USD, chiếm 40% tổng vốn ĐTRNN. Trong số các dự án đã triển khai thực hiện, lĩnh vực công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất, bằng 67% tổng vốn thực hiện và đạt khoảng 60% tổng vốn đăng ký trong lĩnh vực công nghiệp, trong đó một số dự án lớn đã triển khai thực hiện, như Dự án thăm dò dầu khí lô 433a & 416b tại Angiêria và lô SK305 ở Malaysia của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã giải ngân vốn khoảng 150 triệu USD. Hiện tại lô 433a-416b ở Angiêri (giếng MOM-2 có phát hiện dầu khí, giếng MOM-6 bis cho dòng dầu 5.100 thùng/ngày) và lô hợp đồng SK305 ở Malaysia (giếng DANA-1X cho dòng dầu 3.100 thùng/ngày). Dự án đầu tư sang Singapore của Công ty Dịch vụ kỹ thuật dầu khí (PTSC) đã góp vốn thực hiện 22,7 triệu USD. Dự án thủy điện Xekaman 3 tại Lào đang xây dựng các hạng mục công trình theo tiến độ với vốn thực hiện khoảng 100 triệu USD. Ngoài ra, các dự án trồng cây công nghiệp, cao su tại 4 tỉnh Nam Lào đang tích cực triển khai thực hiện theo kế hoạch: Công ty Cao su Đắc Lắc đầu tư vốn thực hiện khoảng 15 triệu USD, Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam đã triển khai đầu tư thực hiện 20 triệu USD để trồng, sản xuất và chế biến cao su theo tiến độ, nhưng do tiến độ giao đất chậm nên khó khăn cho kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp. Nguyên nhân vì công tác đền bù giải phóng mặt bằng thiếu những quy định thống nhất (về quy hoạch đất đai) từ trung ương đến chính quyền địa phương. Một số dự án trong lĩnh vực dịch vụ cũng đã triển khai thực hiện như: Công ty TNHH cà phê Trung Nguyên đầu tư sang Singapore hoạt động hiệu qua, đã đưa hương vị cà phê Việt Nam giới thiệu với bạn bè quốc tế. Công ty cổ phần phần mềm FPT đầu tư sang Nhật Bản đã hợp tác đào tạo được một ngũ lập trình viên phần mềm có trình độ quốc tế. Công ty cổ phần đầu tư Việt Sô đã góp vốn 2,5 triệu USD xây dựng Trung tâm cộng đồng đa năng TP HCM tại Liên bang Nga. Dự án được chính quyền thành phố Moscow chấp thuận đầu tư (quyết định 2288-RP ngày 15/11/2005) và giao đất (biên bản giao đất 1739 ngày 19/12/2007), đã chọn được nhà thầu thi công và thuê công ty tư vấn và được phê chuẩn giải pháp kiến trúc của kiến trúc sư trưởng thành phố. Dự kiến cuối năm 2008 khởi công xây dựng sau khi được cơ quan chức năng Liên bang Nga phê duyệt, thẩm định xong thiết kế kỹ thuật và một số khác (phòng cháy chữa cháy, bảo vệ môi trường.v.v.). Công ty viễn thông Quân đội (Viettel) đầu tư sang Campuchia đang triển khai theo tiến độ đề ra v.v…Bên cạnh đó, còn có dự án đầu tư trong công nghiệp sản xuất hàng may mặc tại Lào của Công ty Scavi Việt Nam (một doanh nghiệp 100% vốn của Việt kiều Pháp thành lập theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam) đang hoạt động rất hiệu quả.
    Đầu tư của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài:
    Về mặt pháp lý theo quy định của Nghị định số 78/2006/NĐ-CP, ĐTRNN là việc nhà đầu tư chuyển vốn đầu tư và các nguồn lực khác từ Việt Nam ra nước ngoài để thực hiện các hoạt động đầu tư, kinh doanh ở nước ngoài. Như vậy, đầu tư của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài không phải là hoạt động ĐTRNN theo quy định của Nghị định số 78/2006/NĐ-CP.
    Mặc dù chưa có số liệu thống kê về tình hình đầu tư của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài nhưng căn cứ vào lượng kiều hối chuyển về Việt Nam những năm qua; cũng như qua khảo sát nắm tình hình tại LB Nga có thể dự báo quy mô đầu tư của cộng đồng người Việt ở nước ngoài không nhỏ. Trên cơ sở tiềm năng về kinh nghiệm, trình độ và sự am hiểu thị trường cũng như năng lực về tài chính, cộng đồng người Việt ở nước ngoài đã có vai trò rất quan trọng, là cầu nối thúc đẩy và hỗ trợ nhiều mặt cho hoạt động ĐTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam. Trong một số trường hợp, cộng đồng người Việt ở nước ngoài đã tham gia trực tiếp vào nhiều dự án ĐTRNN của cả doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân.
    Trên thực tế, bước đầu đã xuất hiện xu hướng nhiều công ty, doanh nghiệp của người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư về Việt Nam thành lập doanh nghiệp, sau đó, tiếp tục ĐTRNN để tranh thủ những lợi ích từ các thỏa thuận song phương, đồng thời, khẳng định địa vị pháp lý của mình khi đầu tư, kinh doanh ở nước ngoài cũng như để có được sự bảo hộ chính thức của nhà nước.Qua 16 năm thực hiện ĐTRNN, tính đến hết năm 2007, Việt Nam còn 249 dự án đầu tư ra nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư 1,39 tỷ USD, vốn thực hiện đạt khoảng 927 triệu USD, chiếm 66,8% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài. Quy mô vốn đầu tư bình quân đạt 5,58 triệu USD/dự án. Qua từng giai đoạn quy mô vốn đầu tư đã thay đổi theo chiều hướng tăng dần, điều này cho thấy tác động tích cực của khuôn khổ pháp lý đối với hoạt động ĐTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam cũng như sự tích cực tham gia vào hoạt động ĐTRNN của các doanh nghiệp có quy mô vốn lớn, trong đó phải nói tới Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.
    Trong giai đoạn 1989-1998, trước khi ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999 của Chính phủ quy định ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam, có 18 dự án ĐTRNN với tổng vốn đăng ký đạt trên 13,6 triệu USD; quy mô vốn đầu tư bình quân đạt 0,76 triệu USD/dự án.
    Trong thời kỳ 1999-2005 sau khi ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ-CP, có 131 dự án ĐTRNN với tổng vốn đăng ký đạt trên 559,89 triệu USD, tăng gấp 7 lần về số dự án và gấp 40 lần về tổng vốn đầu tư đăng ký so với thời kỳ 1989-1998; quy mô vốn đầu tư bình quân đạt 4,27 triệu USD/dự án, cao hơn giai đoạn 1989-1998.
    Từ năm 2006 khi ban hành Nghị định 78/2006/NĐ-CP ngày 09/9/2006 của Chính phủ quy định về ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam tới hết năm 2007 có 100 dự án ĐTRNN với tổng vốn đăng ký đạt trên 816,49 triệu USD; tuy chỉ bằng 76% về số dự án, nhưng tăng 45% về và gấp 40 lần tổng vốn đầu tư đăng ký so với giai đoạn 1999-2005; quy mô vốn đầu tư bình quân đạt 8,16 triệu USD/dự án, cao hơn thời kỳ 1999-2005.

    a) ĐTRNN phân theo ngành:
    Các dự án đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam tập trung chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp với 100 dự án, tổng vốn đầu tư là 893,6 triệu USD, chiếm 40,16% về số dự án và 64,3% tổng vốn đăng ký đầu tư ra nước ngoài. Trong đó, đáng chú ý có một số dự án quy mô vốn trên 100 triệu USD, như: dự án Thủy điện Xekaman 3 của Công ty cổ phần đầu tư và phát triển điện Việt – Lào với tổng vốn đầu tư 273 triệu USD, dự án thăm dò khai thác dầu khí tại Angiêri của Tập đoàn dầu khí Việt Nam với tổng vốn đầu tư 243 triệu USD, 2 dự án thăm dò khai thác dầu khí của Công ty đầu tư phát triển dầu khí tại Madagascar với tổng vốn đầu tư 117,36 triệu USD, tại I Rắc tổng vốn đầu tư 100 triệu USD.
    Tiếp theo là đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp với 53 dự án, tổng vốn đăng ký đầu tư ra nước ngoài là 286 triệu USD, chiếm 21,3% về số dự án và 20,57% tổng vốn đăng ký đầu tư ra nước ngoài. Trong đó, phần lớn là dự án trong lĩnh vực trồng cao su, cây công nghiệp tại Lào với một số dự án quy mô lớn như: (i) Công ty cổ phần cao su Dầu Tiếng Việt – Lào, tổng vốn đầu tư 81,9 triệu USD, (ii) Công ty cao su Đắc Lắc, tổng vốn đầu tư 32,3 triệu USD, (iii) Công ty cổ phần cao su Việt – Lào, tổng vốn đầu tư 25,5 triệu USD.
    Đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ có 96 dự án với tổng vốn đăng ký đầu tư ra nước ngoài là 210,4 triệu USD, chiếm 38,5% về số dự án và 15,14% tổng vốn đăng ký đầu tư ra nước ngoài. Trong đó, có một số dự án lớn như: dự án đầu tư sang Campuchia để khai thác mạng viễn thông di động của Công ty viễn thông quân đội Viettel với tổng vốn đầu tư 27 triệu USD, dự án đầu tư sang Liên bang Nga để xây dựng trung tâm thương mại, văn phòng cho thuê của Công ty cổ phần đầu tư Việt Sô với tổng vốn đầu tư 35 triệu USD, dự án đầu tư sang Singapore để đóng mới tàu chở dầu của Công ty dịch vụ kỹ thuật dầu khí với tổng vốn đầu tư 21 triệu USD, .... Còn lại là các dự án có quy mô vừa và nhỏ đầu tư vào các địa bàn như Hoa Kỳ, Singapore, Nhật Bản, Trung Quốc....

    b) ĐTRNN phân theo đối tác:
    Các doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư sang 35 quốc gia và vùng lãnh thổ, nhưng chủ yếu tại:
    Châu Á có 167 dự án, tổng vốn đầu tư là 751,03 triệu USD, chiếm 67% về số dự án và 54% tổng vốn đầu tư đăng ký. Trong đó tập trung nhiều nhất tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào với 86 dự án, tổng vốn đầu tư là 583,8 triệu USD, đã thực hiện 328 triệu USD, chiếm 35% về số dự án và 42% tổng vốn đầu tư đăng ký. Phần lớn các dự án đầu tư sang Lào trong lĩnh vực công nghiệp nhiệt điện, trồng cao su, khai thác khoáng sản. Cũng tại I Rắc, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cũng ký kết đầu tư vào 1 dự án thăm dò, khai thác dầu khí có vốn đầu tư cam kết là 100 triệu USD hiện chưa triển khai được do tình hình an ninh bất ổn tại khu vực này.
    Châu Phi có 2 dự án thăm dò, khai thác dầu khí của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam với tổng vốn đầu tư 360,36 triệu USD, chiếm 23,5% tổng vốn đầu tư đăng ký gồm (i) có 1 dự án tại địa bàn Angiêri vốn đầu tư là 243 triệu USD, sau giai đoạn thăm dò, thẩm lượng dự án đã phát hiện có dầu và khí ga; (i) 1 dự án tại Madagasca vốn đầu tư là 117,36 triệu USD hiện có kết quả khả quan.
    Châu Âu có 37 dự án, tổng vốn đầu tư là 463,84 triệu USD, chiếm 14,6% về số dự án và khoảng 10% tổng vốn đầu tư đăng ký, trong đó, Liên bang Nga có 12 dự án, tổng vốn đầu tư là 78 triệu USD.

    c) Tình hình thực hiện dự án:
    Tính đến hết năm 2007, các dự án đầu tư ra nước ngoài đã giải ngân vốn khoảng 927 triệu USD, chiếm 66,6% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài. Trong số các dự án đã triển khai thực hiện, lĩnh vực công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất, bằng 58,6% tổng vốn thực hiện và đạt khoảng 60% tổng vốn đăng ký trong lĩnh vực công nghiệp, trong đó có một số dự án lớn đã triển khai thực hiện, cụ thể:
    (i) Dự án thăm dò dầu khí lô 433a & 416b tại Angiêria và lô SK305 ở Malaysia của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam với vốn đầu tư thực hiện khoảng 150 triệu USD. Hiện nay, Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam đã cùng các đối tác phát hiện dầu khí mới tại lô 433a-416b ở Angiêri (giếng MOM-2 có phát hiện dầu khí, giếng MOM-6 bis cho dòng dầu 5.100 thùng/ngày) và lô hợp đồng SK305 ở Malaysia (giếng DANA-1X cho dòng dầu 3.100 thùng/ngày).
    (ii) Dự án đầu tư sang Singapore của Công ty dịch vụ kỹ thuật dầu khí (PTSC) đã góp vốn thực hiện 22,7 triệu USD,
    (iii) Dự án xây dựng thủy điện Xekaman 3 tại Lào, hiện đang xây dựng các hạng mục công trình theo tiến độ với vốn đầu tư thực hiện khoảng 100 triệu USD.
    Ngoài ra còn có dự án đầu tư trong công nghiệp sản xuất hàng may mặc tại Lào của Công ty Scavi Việt Nam (một doanh nghiệp 100% vốn của Việt kiều Pháp thành lập theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam) đang hoạt động rất hiệu quả.
    Các dự án trồng cây công nghiệp, cao su tại 4 tỉnh Nam Lào đang tích cực triển khai thực hiện theo kế hoạch, cụ thể: Công ty Cao su Đắc Lắc với vốn đầu tư thực hiện khoảng 15 triệu USD, dự án trồng, sản xuất và chế biến cao su của Tổng Công ty cao su Việt Nam với vốn đầu tư thực hiện khoảng 20 triệu USD đã triển khai thực hiện theo tiến độ. Nhưng do tiến độ giao đất chậm nên khó khăn cho việc lập kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp. Nguyên nhân vì công tác đền bù giải phóng mặt bằng thiếu những quy định thống nhất từ trung ương đến chính quyền địa phương. Tính thống nhất về đất đai chưa cao và chưa có quy hoạch rõ ràng về vùng dành cho đất trồng cây công nghiệp, đất rừng, đất ở. Theo quy định phân cấp về đất đai của Lào, đất với diện tích trên 100 ha do trung ương cấp phép, dưới 100 ha do địa phương cấp phép. Khi tiếp xúc với nhà đầu tư, các địa phương của Lào thường cam kết dành đất trên 100 ha để làm nông nghiệp, nhưng khi giao thực tế, chỉ giao thành từng đợt 100 ha, dẫn tới khả năng chồng lấn cao, đặc biệt khi dự án vì lý do nào đó triển khai không đúng tiến độ. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động tại Lào còn gặp khó khăn trong việc: (i) làm thủ tục lưu trú của lao động Việt Nam vì lao động tại chỗ không đáp ứng được yêu cầu; (ii) Thủ tục thông quan phức tạp (đặc biệt ở các cửa khẩu mới), không thống nhất ở các cửa khẩu, mất nhiều loại phí không có trong quy định của Lào.
    Một số dự án trong lĩnh vực dịch vụ cũng đã triển khai thực hiện như: (i) dự án đầu tư sang Singapore của Công ty TNHH cà phê Trung Nguyên hoạt động hiệu qua, đã đưa hương vị cà phê Việt Nam giới thiệu với bạn bè quốc tế; (ii) dự án đầu tư sang Nhật Bản của Công ty cổ phần phần mềm FPT bước đầu đã hợp tác đào tạo được một ngũ lập trình viên phần mềm có trình độ quốc tế; (iii) dự án xây dựng trung tâm cộng đồng đa năng TP HCM tại Liên bang Nga của Công ty cổ phần đầu tư Việt Sô đã góp vốn khoảng 2,5 triệu USD. Dự án được chính quyền thành phố Moscow chấp thuận đầu tư (quyết định 2288-RP ngày 15/11/2005) và giao đất (biên bản giao đất 1739 ngày 19/12/2007), đã chọn được nhà thầu thi công và thuê công ty tư vấn. Đồng thời, đã được phê chuẩn giải pháp kiến trúc của kiến trúc sư trưởng thành phố. Dự kiến cuối năm 2008 khởi công xây dựng sau khi được cơ quan chức năng LB Nga phê duyệt, thẩm định xong thiết kế kỹ thuật và một số khác (phòng cháy chữa cháy, bảo vệ môi trường.v.v.); (iv) dự án đầu tư sang Campuchia của Công ty viễn thông Quân đội (Viettel) đang triển khai theo tiến độ đề ra v.v…

    Biểu số liệu ĐTRNN 1988 - 2007
    MNXQ®
    Tình chỉ đẹp khi quần chưa cởi..quần cởi rùi mổi đứa 1 nơi

    ĐẠI CA YÊU TINH HỘI

  4. #4
    Tham gia ngày
    Mar 2010
    Đến từ
    Tiền Giang
    Bài gửi
    1.021
    Thanks
    0
    Thanked 3 Times in 1 Post
    Năng lực viết bài
    344

    Mặc định Re: help!


    Việt Nam đã và đang thành công trong thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (ĐTNN) từ năm 1987 đến nay và có thể nhận thấy xu hướng mới đang trỗi dậy trong vài năm trở lại đây, đó là sự gia tăng dòng vốn đầu tư ra nước ngoài (ĐTRNN) của các doanh nghiệp Việt Nam.


    ĐTRNN là vấn đề mang tính chất toàn cầu và là xu thế của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới nhằm mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tiếp cận gần khách hàng hơn, tận dụng nguồn tài nguyên, nguyên liệu tại chỗ, tiết kiệm chi phí vận chuyển hàng hóa, tránh được chế độ giấy phép xuất khẩu trong nước và tận dụng được quota xuất khẩu của nước sở tại để mở rộng thị trường, đồng thời, tăng cường khoa học kỹ thuật, nâng cao nâng lực quản lý và trình độ tiếp thị với các nước trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào nhu cầu và điều kiện của mỗi nước mà ĐTRNN cân bằng và đồng hành với đầu tư nước ngoài. Vì vậy, dòng vốn đầu tư giữa các nước phát triển sang các nước đang phát triển biến động từng năm tùy thuộc nhu cầu và điều kiện phát triển kinh tế-xã hội của mỗi nước, như Hàn Quốc là một nước có chính sách thúc đẩy và hỗ trợ đầu tư nước ngoài vào, đồng thời cũng khuyến khích các doanh nghiệp Hàn Quốc đầu tư ra nước ngoài. Việt Nam đi lên từ một nền kinh tế kém, tiến hành thu hút đầu tư nước ngoài chậm hơn so với các nước khu vực và thế giới nhưng 20 năm qua đã đạt được nhiều thành tự trong thu hút và sử dụng vốn ĐTNN, đồng thời, do nhận thức được vai trò của ĐTRNN nên sớm đã có chính sách khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam ĐTRNN.

    I. HỆ THỐNG PHÁP LUẬT ĐTRNN CỦA VIỆT NAM

    Những năm đầu thập niên 90, lượng vốn ĐTNN vào Việt Nam tăng mỗi năm, số các doanh nghiệp ĐTNN trong sản xuất hàng dệt-may tăng cao nên số lượng quota xuất khẩu hàng năm không đáp ứng đủ năng lực sản xuất. Bên cạnh đó, chính sách “đóng cửa rừng”, cấm khai thác đánh bắt gần bờ để bảo vệ tài nguyên, môi trường cũng tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của một số doanh nghiệp trong công nghiệp chế biến sản xuất hàng tiêu dùng. Vì vậy, nhằm bù đắp các “thiếu hụt trên” đã có một số doanh nghiệp ĐTNN chuyển mục tiêu hoạt động hoặc tìm kiếm cơ hội đầu tư tại một số nước láng giềng trong khu vực. Trong số các doanh nghiệp đi tiên phong trong ĐTRNN còn phải kể tới một số doanh nghiệp tư nhân của một số địa phương tại vùng biên giới với một số nước bạn (Lào, Campuchia) đã thực hiện dự án đầu tư tại nước bạn theo thỏa thuận hợp tác song phương giữa chính quyền địa phương hai nước.
    Trước thực tế đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999 quy định ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam để hướng dẫn và quản lý hoạt động ĐTRNN. Như vậy, có thể nói sau hơn 10 năm thực thi Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam pháp luật về ĐTRNN tại Việt Nam bắt đầu hình thành, mở đường cho các hoạt động ĐTRNN sau này. Mặc dù hành lang pháp lý cho ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam mới được ban hành đầu năm 1999, nhưng trước thời điểm này một số doanh nghiệp Việt Nam đã tiến hành hoạt động ĐTRNN.
    Để triển khai Nghị định 22/1999/NĐ-CP nói trên, các Bộ, ngành liên quan đã ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể hoạt động ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam (Thông tư số 05/2001/TT-BKH ngày 30/8/2001 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư số 01/2001/TT-NHNN ngày 19/01/2001 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam). Những văn bản nêu trên cùng với các văn bản pháp luật khác đã tạo nên một khung pháp lý cần thiết cho hoạt động ĐTRNN. Trong hơn 16 năm qua, đã có 249 dự án ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký 1,39 tỷ USD.
    Việc ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn đã đánh dấu mốc quan trọng trong việc hình thành cơ sở pháp lý cho hoạt động ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam, tạo điều kiện cho việc ra đời nhiều dự án ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam hoạt động đạt hiệu quả nhất định. Đồng thời là minh chứng cho sự trưởng thành về nhiều mặt của các doanh nghiệp Việt Nam từng bước hội nhập đời sống kinh tế khu vực và thế giới. Tuy nhiên, qua thực tế cho thấy hoạt động ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam còn lúng túng, gặp nhiều khó khăn khi triển khai thực hiện, bộc lộ một số hạn chế đòi hởi cần được hoàn thiện. Chẳng hạn, các quy định còn thiếu cụ thể, đồng bộ, nhất quán, có một số điều khoản đến nay không còn phù hợp, không bao quát được sự đa dạng của các hình thức ĐTRNN. Thủ tục hành chính nhìn chung vẫn còn phức tạp, rườm rà, không ít quy định của cơ quan quản lý can thiệp quá sâu vào quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Quy trình đăng ký và thẩm định cấp Giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài còn phức tạp, thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư chưa được rõ ràng. Thiếu các chế tài cụ thể về cơ chế báo cáo, cung cấp thông tin về triển khai dự án đầu tư ở nước ngoài và chưa có cơ chế kiểm soát hoạt động ĐTRNN. Cơ chế phối hợp quản lý đối với ĐTRNN chưa được quy định cụ thể, rõ ràng. Ngoài ra, văn bản pháp lý về ĐTRNN mới dừng lại ở cấp Nghị định của Chính phủ nên hiệu lực pháp lý chưa cao.
    Từ thực tế nêu trên, năm 2005 Chính phủ đã trình Quốc hội luật hóa hoạt động ĐTRNN và được Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư năm 2005 (có hiệu lực vào tháng 7/2006), trong đó có các quy định về ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam. Sau một thời gian ngắn, Nghị định 78/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định về ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam được ban hành ngày 09/9/2006 nhằm hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư năm 2005 với 4 mục tiêu chủ đạo là (i) phù hợp với thực tiễn hoạt động; (ii) quy định rõ ràng, cụ thể hơn; (iii) tăng cường hiệu quả của quản lý nhà nước và (iv) đơn giản hóa thủ tục hành chính. Đồng thời, kế thừa và phát huy có chọn lọc những mặt tích cực, cũng như khắc phục những hạn chế của hệ thống pháp luật hiện hành về ĐTRNN nhằm mở rộng và phát triển quyền tự chủ, tự do kinh doanh của doanh nghiệp. Nghị định 78/2006/NĐ-CP còn quy định các nhà đầu tư và doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó có doanh nghiệp có vốn ĐTNN, đều có quyền ĐTRNN, có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh, được lựa chọn hay thay đổi hình thức tổ chức quản lý nội bộ, hình thức đầu tư thích ứng với yêu cầu kinh doanh và được pháp luật Việt Nam bảo hộ. Giảm thiểu các quy định mang tính “xin-cho” hoặc “phê duyệt” bất hợp lý, không cần thiết, trái với nguyên tắc tự do kinh doanh, gây phiền hà cho hoạt động đầu tư, đồng thời, có tính đến với lộ trình cam kết trong các thoả thuận đa phương và song phương trong hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là các nguyên tắc đối xử quốc gia và tối huệ quốc. Bên cạnh đó, Nghị định 78/2006/NĐ-CP còn quy định rõ về trách nhiệm, các quan hệ giữa cơ quan nhà nước đối với nhà đầu tư và doanh nghiệp, về việc thực hiện các mối quan hệ đó cũng như chế tài khi có những vi phạm từ hai phía (nhà đầu tư và cơ quan, công chức nhà nước) nếu không thực hiện đúng các quy định của pháp luật.
    Như vậy, khuôn khổ pháp lý của hoạt động ĐTRNN đã dần dần được hoàn thiện hơn thông việc ban hành Luật Đầu tư năm 2005, đồng thời, Nghị định số 78/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 quy định về ĐTRNN đã thay thế Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999 và thủ tục đầu tư ra nước ngoài đã được hướng dẫn cụ thể, rõ ràng, đơn giản tại Quyết định số 1175/2007/QĐ-BKH ngày 10/10/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

    II. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM.

    Nền kinh tế kinh tế tiếp tục tăng trưởng, đã có thêm nhiều doanh nghiệp Việt Nam có khả năng tài chính cũng như kinh nghiệm để đầu tư ra nước ngoài. Mặt khác, các doanh nghiệp Việt Nam cũng nhận thức được lợi ích của việc ĐTRNN (tận dụng được nguồn nguyên liệu tại chỗ, lao động tại chỗ, giảm chi phí vận chuyển sản phẩm, thâm nhập vào thị trường của nước sở tại .v.v.) trong bối cảnh hội nhập sâu vào đời sống kinh tế khu vực và quốc tế. Nhất là khi Việt Nam chính thức là thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cũng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các hoạt động đầu tư, thương mại của doanh nghiệp, trong đó có hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam.

    1.ĐTRNN trong năm 2007:

    Tiếp theo đà tăng trưởng của những năm trước, hoạt động ĐTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam năm 2007 tiếp tục khởi sắc. Trong năm 2007 có 64 dự án ĐTRNN với tổng vốn đầu tư đăng ký là 391,2 triệu USD, tăng 77% về số dự án bằng 92% tổng vốn đăng ký so với năm 2006.
    Trong đó, lĩnh vực nông-lâm- ngư nghiệp có số vốn đầu tư lớn nhất (17 dự án ĐTRNN với tổng vốn 156,8 triệu USD), chiếm 40% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài và 27% về số dự án, tăng 5,4% về vốn đăng ký so với năm 2006 (chiếm 30,3% số dự án và 34,6% vốn ĐTRNN). Các dự án đầu tư vào lĩnh vực này chủ yếu là dự án trồng cây công nghiệp, cao su, điều ... tại Lào, lớn nhất là dự án trồng cao su trên diện tích 20.000 ha có tổng vốn đầu tư đăng ký 81,99 triệu USD do Công ty cổ phần cao su Dầu Tiếng Việt-Lào đầu tư, được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp giấy chứng nhận đầu tư vào tháng 6/2007.
    Tiếp theo là lĩnh vực công nghiệp (23 dự án ĐTRNN với tổng vốn 147,1 triệu USD), chiếm 38% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài và 36% về số dự án. Trong lĩnh vực này, chủ yếu các dự án đầu tư vào công nghiệp nặng, bao gồm cả dầu khí. Trong đó lớn nhất là dự án thăm dò, khai thác dầu khí tại Madagasca, tổng vốn đầu tư 117,3 triệu USD do Tổng Công ty đầu tư phát triển dầu khí thực hiện được cấp giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài vào tháng 10/2007.
    Số còn lại đầu tư trong lĩnh vực dịch vụ (24 dự án ĐTRNN với tổng vốn 87,2 triệu USD), chiếm 22% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài và 38% về số dự án, giảm so với năm 2006 (chiếm 39,3% số dự án và 61% tổng vốn đầu tư). Có 2 dự án lớn nhất trong lĩnh vực này là: (i) Công ty Cổ phần Đầu ­ tư Xây dựng và khai thác công trình giao thông 584 đầu tư 30 triệu USD vào xây dựng Trung tâm thương mại tại Hoa Kỳ và (ii) Tổng công ty Viễn thông Quân Đội (Viettel) đầu tư sang Campuchia để thiết lập và khai thác mạng viễn thông sử dụng công nghệ VOIP cung cấp dịch vụ điện thoại và mạng thông tin di động tại Campuchia, tổng vốn đầu tư của dự án là 27 triệu USD.
    Quy mô vốn đầu tư bình quân của các dự án ĐTRNN trong năm 2007 đạt trên 6 triệu USD/dự án.

    2.ĐTRNN từ 1989-2007:

    Qua 16 năm thực hiện ĐTRNN, tính đến hết năm 2007, Việt Nam còn 249 dự án đầu tư ra nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư 1,39 tỷ USD, vốn thực hiện đạt khoảng 927 triệu USD, chiếm 66,8% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài. Quy mô vốn đầu tư bình quân đạt 5,58 triệu USD/dự án. Qua từng giai đoạn quy mô vốn đầu tư đã thay đổi theo chiều hướng tăng dần, điều này cho thấy tác động tích cực của khuôn khổ pháp lý đối với hoạt động ĐTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam cũng như sự tích cực tham gia vào hoạt động ĐTRNN của các doanh nghiệp có quy mô vốn lớn, trong đó phải nói tới Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.
    Trong giai đoạn 1989-1998, trước khi ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999 của Chính phủ quy định ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam, có 18 dự án ĐTRNN với tổng vốn đăng ký đạt trên 13,6 triệu USD; quy mô vốn đầu tư bình quân đạt 0,76 triệu USD/dự án.
    Trong thời kỳ 1999-2005 sau khi ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ-CP, có 131 dự án ĐTRNN với tổng vốn đăng ký đạt trên 559,89 triệu USD, tăng gấp 7 lần về số dự án và gấp 40 lần về tổng vốn đầu tư đăng ký so với thời kỳ 1989-1998; quy mô vốn đầu tư bình quân đạt 4,27 triệu USD/dự án, cao hơn giai đoạn 1989-1998.
    Từ năm 2006 khi ban hành Nghị định 78/2006/NĐ-CP ngày 09/9/2006 của Chính phủ quy định về ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam tới hết năm 2007 có 100 dự án ĐTRNN với tổng vốn đăng ký đạt trên 816,49 triệu USD; tuy chỉ bằng 76% về số dự án, nhưng tăng 45% về và gấp 40 lần tổng vốn đầu tư đăng ký so với giai đoạn 1999-2005; quy mô vốn đầu tư bình quân đạt 8,16 triệu USD/dự án, cao hơn thời kỳ 1999-2005.

    a) ĐTRNN phân theo ngành:
    Các dự án đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam tập trung chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp với 100 dự án, tổng vốn đầu tư là 893,6 triệu USD, chiếm 40,16% về số dự án và 64,3% tổng vốn đăng ký đầu tư ra nước ngoài. Trong đó, đáng chú ý có một số dự án quy mô vốn trên 100 triệu USD, như: dự án Thủy điện Xekaman 3 của Công ty cổ phần đầu tư và phát triển điện Việt – Lào với tổng vốn đầu tư 273 triệu USD, dự án thăm dò khai thác dầu khí tại Angiêri của Tập đoàn dầu khí Việt Nam với tổng vốn đầu tư 243 triệu USD, 2 dự án thăm dò khai thác dầu khí của Công ty đầu tư phát triển dầu khí tại Madagascar với tổng vốn đầu tư 117,36 triệu USD, tại I Rắc tổng vốn đầu tư 100 triệu USD.
    Tiếp theo là đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp với 53 dự án, tổng vốn đăng ký đầu tư ra nước ngoài là 286 triệu USD, chiếm 21,3% về số dự án và 20,57% tổng vốn đăng ký đầu tư ra nước ngoài. Trong đó, phần lớn là dự án trong lĩnh vực trồng cao su, cây công nghiệp tại Lào với một số dự án quy mô lớn như: (i) Công ty cổ phần cao su Dầu Tiếng Việt – Lào, tổng vốn đầu tư 81,9 triệu USD, (ii) Công ty cao su Đắc Lắc, tổng vốn đầu tư 32,3 triệu USD, (iii) Công ty cổ phần cao su Việt – Lào, tổng vốn đầu tư 25,5 triệu USD.
    Đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ có 96 dự án với tổng vốn đăng ký đầu tư ra nước ngoài là 210,4 triệu USD, chiếm 38,5% về số dự án và 15,14% tổng vốn đăng ký đầu tư ra nước ngoài. Trong đó, có một số dự án lớn như: dự án đầu tư sang Campuchia để khai thác mạng viễn thông di động của Công ty viễn thông quân đội Viettel với tổng vốn đầu tư 27 triệu USD, dự án đầu tư sang Liên bang Nga để xây dựng trung tâm thương mại, văn phòng cho thuê của Công ty cổ phần đầu tư Việt Sô với tổng vốn đầu tư 35 triệu USD, dự án đầu tư sang Singapore để đóng mới tàu chở dầu của Công ty dịch vụ kỹ thuật dầu khí với tổng vốn đầu tư 21 triệu USD, .... Còn lại là các dự án có quy mô vừa và nhỏ đầu tư vào các địa bàn như Hoa Kỳ, Singapore, Nhật Bản, Trung Quốc....

    b) ĐTRNN phân theo đối tác:
    Các doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư sang 35 quốc gia và vùng lãnh thổ, nhưng chủ yếu tại:
    Châu Á có 167 dự án, tổng vốn đầu tư là 751,03 triệu USD, chiếm 67% về số dự án và 54% tổng vốn đầu tư đăng ký. Trong đó tập trung nhiều nhất tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào với 86 dự án, tổng vốn đầu tư là 583,8 triệu USD, đã thực hiện 328 triệu USD, chiếm 35% về số dự án và 42% tổng vốn đầu tư đăng ký. Phần lớn các dự án đầu tư sang Lào trong lĩnh vực công nghiệp nhiệt điện, trồng cao su, khai thác khoáng sản. Cũng tại I Rắc, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cũng ký kết đầu tư vào 1 dự án thăm dò, khai thác dầu khí có vốn đầu tư cam kết là 100 triệu USD hiện chưa triển khai được do tình hình an ninh bất ổn tại khu vực này.
    Châu Phi có 2 dự án thăm dò, khai thác dầu khí của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam với tổng vốn đầu tư 360,36 triệu USD, chiếm 23,5% tổng vốn đầu tư đăng ký gồm (i) có 1 dự án tại địa bàn Angiêri vốn đầu tư là 243 triệu USD, sau giai đoạn thăm dò, thẩm lượng dự án đã phát hiện có dầu và khí ga; (i) 1 dự án tại Madagasca vốn đầu tư là 117,36 triệu USD hiện có kết quả khả quan.
    Châu Âu có 37 dự án, tổng vốn đầu tư là 463,84 triệu USD, chiếm 14,6% về số dự án và khoảng 10% tổng vốn đầu tư đăng ký, trong đó, Liên bang Nga có 12 dự án, tổng vốn đầu tư là 78 triệu USD.

    c) Tình hình thực hiện dự án:
    Tính đến hết năm 2007, các dự án đầu tư ra nước ngoài đã giải ngân vốn khoảng 927 triệu USD, chiếm 66,6% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài. Trong số các dự án đã triển khai thực hiện, lĩnh vực công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất, bằng 58,6% tổng vốn thực hiện và đạt khoảng 60% tổng vốn đăng ký trong lĩnh vực công nghiệp, trong đó có một số dự án lớn đã triển khai thực hiện, cụ thể:
    (i) Dự án thăm dò dầu khí lô 433a & 416b tại Angiêria và lô SK305 ở Malaysia của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam với vốn đầu tư thực hiện khoảng 150 triệu USD. Hiện nay, Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam đã cùng các đối tác phát hiện dầu khí mới tại lô 433a-416b ở Angiêri (giếng MOM-2 có phát hiện dầu khí, giếng MOM-6 bis cho dòng dầu 5.100 thùng/ngày) và lô hợp đồng SK305 ở Malaysia (giếng DANA-1X cho dòng dầu 3.100 thùng/ngày).
    (ii) Dự án đầu tư sang Singapore của Công ty dịch vụ kỹ thuật dầu khí (PTSC) đã góp vốn thực hiện 22,7 triệu USD,
    (iii) Dự án xây dựng thủy điện Xekaman 3 tại Lào, hiện đang xây dựng các hạng mục công trình theo tiến độ với vốn đầu tư thực hiện khoảng 100 triệu USD.
    Ngoài ra còn có dự án đầu tư trong công nghiệp sản xuất hàng may mặc tại Lào của Công ty Scavi Việt Nam (một doanh nghiệp 100% vốn của Việt kiều Pháp thành lập theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam) đang hoạt động rất hiệu quả.
    Các dự án trồng cây công nghiệp, cao su tại 4 tỉnh Nam Lào đang tích cực triển khai thực hiện theo kế hoạch, cụ thể: Công ty Cao su Đắc Lắc với vốn đầu tư thực hiện khoảng 15 triệu USD, dự án trồng, sản xuất và chế biến cao su của Tổng Công ty cao su Việt Nam với vốn đầu tư thực hiện khoảng 20 triệu USD đã triển khai thực hiện theo tiến độ. Nhưng do tiến độ giao đất chậm nên khó khăn cho việc lập kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp. Nguyên nhân vì công tác đền bù giải phóng mặt bằng thiếu những quy định thống nhất từ trung ương đến chính quyền địa phương. Tính thống nhất về đất đai chưa cao và chưa có quy hoạch rõ ràng về vùng dành cho đất trồng cây công nghiệp, đất rừng, đất ở. Theo quy định phân cấp về đất đai của Lào, đất với diện tích trên 100 ha do trung ương cấp phép, dưới 100 ha do địa phương cấp phép. Khi tiếp xúc với nhà đầu tư, các địa phương của Lào thường cam kết dành đất trên 100 ha để làm nông nghiệp, nhưng khi giao thực tế, chỉ giao thành từng đợt 100 ha, dẫn tới khả năng chồng lấn cao, đặc biệt khi dự án vì lý do nào đó triển khai không đúng tiến độ. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động tại Lào còn gặp khó khăn trong việc: (i) làm thủ tục lưu trú của lao động Việt Nam vì lao động tại chỗ không đáp ứng được yêu cầu; (ii) Thủ tục thông quan phức tạp (đặc biệt ở các cửa khẩu mới), không thống nhất ở các cửa khẩu, mất nhiều loại phí không có trong quy định của Lào.
    Một số dự án trong lĩnh vực dịch vụ cũng đã triển khai thực hiện như: (i) dự án đầu tư sang Singapore của Công ty TNHH cà phê Trung Nguyên hoạt động hiệu qua, đã đưa hương vị cà phê Việt Nam giới thiệu với bạn bè quốc tế; (ii) dự án đầu tư sang Nhật Bản của Công ty cổ phần phần mềm FPT bước đầu đã hợp tác đào tạo được một ngũ lập trình viên phần mềm có trình độ quốc tế; (iii) dự án xây dựng trung tâm cộng đồng đa năng TP HCM tại Liên bang Nga của Công ty cổ phần đầu tư Việt Sô đã góp vốn khoảng 2,5 triệu USD. Dự án được chính quyền thành phố Moscow chấp thuận đầu tư (quyết định 2288-RP ngày 15/11/2005) và giao đất (biên bản giao đất 1739 ngày 19/12/2007), đã chọn được nhà thầu thi công và thuê công ty tư vấn. Đồng thời, đã được phê chuẩn giải pháp kiến trúc của kiến trúc sư trưởng thành phố. Dự kiến cuối năm 2008 khởi công xây dựng sau khi được cơ quan chức năng LB Nga phê duyệt, thẩm định xong thiết kế kỹ thuật và một số khác (phòng cháy chữa cháy, bảo vệ môi trường.v.v.); (iv) dự án đầu tư sang Campuchia của Công ty viễn thông Quân đội (Viettel) đang triển khai theo tiến độ đề ra v.v…

    III. ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM

    Qua trên 16 năm thực hiện các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài có nhiều thuận lợi nhưng cũng gặp không ít khó khăn, thách thức.

    1. Thuận lợi:
    a) Đối với trong nước:
    * Về luật pháp, chính sách:
    - Hệ thống luật pháp chính sách Việt Nam về hoạt động ĐTRNN dần hoàn thiện tạo khuôn khổ pháp lý cho hoạt động và quản lý hoạt động ĐTRNN.
    * Về quản lý nhà nước:
    - Công tác cấp giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài và quản lý các dự án ĐTRNN dần đi vào nề nếp. Công tác thẩm tra cấp phép cho các dự án ĐTRNN đã được cải thiện đáng kể. Sự phối hợp giữa các Bộ, ngành như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính, cũng như với cơ quan đại diện ngoại giao trong việc quản lý và nắm bắt thông tin về các dự án ĐTRNN đã hình thành thông qua việc trao đổi thông tin và hợp tác xử lý các vướng mắc của dự án bằng nhiều hình thức phong phú.
    - Mối liên hệ giữa cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài với các doanh nghiệp ĐTRNN từng bước chặt chẽ hơn.
    - Xu hướng hoạt động đầu tư ra nước ngoài tiếp tục sôi động, ngày càng có thêm các doanh nghiệp Việt Nam có khả năng tài chính và quan tâm mở rộng địa bàn hoạt động sản xuất kinh doanh bằng việc đầu tư ra nước ngoài nhằm phát huy hiệu quả của hội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế quốc tế (mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiết kiệm chi phí sản xuất, chi phí vận tải .v.v..). Đặc biệt, ĐTRNN đã chuyển từ những dự án quy mô nhỏ đầu tư vào các ngành nghề đơn giản (mở nhà hàng ăn uống, kinh doanh sản phẩm chè, cà phê Việt Nam) sang các dự án quy mô lớn đầu tư vào các ngành nghề đòi hỏi kỹ thuật, công nghệ cao, vốn lớn (thăm dò khai táhc dầu khí, sản xuất điện năng.v.v.). Từ năm 2006, tổng vốn ĐTRNN đăng ký của các doanh nghiệp Việt Nam đã vượt ngưỡng 1 tỷ USD. Tuy số lượng dự án và quy mô vốn đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam ĐTRNN còn nhỏ so với con số vốn thu hút ĐTNN vào Việt Nam (trên 83 tỷ USD), nhưng đã chứng minh sự trưởng thành từng bước của các doanh nghiệp Việt Nam về năng lực tài chính, trình độ công nghệ-kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý, đầu tư. Nhìn chung, các dự án ĐTRNN đã bước đầu triển khai có hiệu quả, nhiều dự án hoạt động có hiệu quả đã tăng vốn đầu tư, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.

    b) Đối với nước tiếp nhận đầu tư:
    - Về chủ trương, chính phủ các nước đều ban hành chính sách khuyến khích, kêu gọi ĐTNN. Thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp tại một số nền kinh tế (ví dụ LB Nga) rất đơn giản.
    - Tuỳ điều kiện tự nhiên và thực tế của mỗi nước tiếp nhận đầu tư có tiềm năng về những nội dung mà Việt Nam còn thiếu hụt. Ví dụ: Lào có nhiều tiềm năng để các doanh nghiệp Việt Nam có thể hợp tác đầu tư vào các lĩnh vực như: thủy điện, thăm dò- khai thác- chế biến khoáng sản, trồng cây công nghiệp, chế biến nông- lâm sản...
    - Quan hệ giữa Việt Nam với một số nền kinh tế (Lào, LB Nga, Campuchia.v.v) là những quan hệ kinh tế và chính trị đặc biệt nên nhận được sự ủng hộ của Chính phủ hai bên đối với quan hệ hợp tác đầu tư giữa doanh nghiệp hai phía.

    2. Hạn chế:
    a) Đối với trong nước:
    * Về luật pháp, chính sách:
    - Chính phủ chưa có chính sách hay cơ chế đặc thù để hỗ trợ và khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sang các nước, đặc biệt tại Lào, Campuchia, LB Nga.
    - Khuôn khổ pháp lý về ĐTRNN theo hình thức gián tiếp còn chưa rõ ràng, gây hạn chế cho việc đầu tư theo hình thức này. Điều này chưa phù hợp bối cảnh hiện nay, đòi hỏi phải có văn bản hướng dẫn cụ thể.
    * Về quản lý nhà nước:
    - Công tác quản lý các dự án đầu tư ra nước ngoài còn gặp nhiều khó khăn do việc thực hiện chế độ báo cáo của các dự án đầu tư ra nước ngoài chưa đầy đủ, trong khi chế tài chưa quy định rõ và thực hiện nghiêm túc.
    - Thiếu thông tin về chính sách đầu tư của một số địa bàn nên khó khăn cho công tác xúc tiến đầu tư, thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam ĐTRNN.
    - Chưa thường xuyên tổng kết, đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư ra nước ngoài để rút bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý và đề xuất những biện pháp thúc đẩy hơn nữa hoạt động ĐTRNN.
    - Mối liên hệ giữa cơ quan đại diện ngoại giao và thương vụ ta ở nước ngoài với các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài còn lỏng lẻo nên khi có vụ việc tranh chấp xảy ra sẽ không tranh thủ được tối đa sự hỗ trợ của Nhà nước.
    - Ở một số dự án ĐTRNN thời gian thẩm tra cấp Giấy chứng nhận ĐTRNN cho dự án vẫn còn kéo dài so với thời hạn theo luật định, ảnh hưởng tới tiến độ triển khai dự án ở nước ngoài. Điều này cho thấy ở một số bộ phận, một số cá nhân chưa thực sự nêu cao tinh thần trách nhiệm trong xử lý công việc.
    * Về doanh nghiệp nước ta:
    - Tiềm lực của doanh nghiệp Việt Nam về vốn, công nghệ chưa phải là mạnh; kinh nghiệm quản lý còn hạn chế nên khả năng cạnh tranh thua kém một số nước khác (Trung Quốc, Thái Lan) tại nước tiếp nhận đầu tư.
    - Số lượng dự án và quy mô vốn đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài còn nhỏ, do năng lực tài chính và kinh nghiệm đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam còn bị hạn chế.
    - Các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động riêng lẻ, manh mún tại các nước, thậm chí còn cạnh tranh với nhau, không có cơ chế liên kết để tăng tiếng nói đối với các cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại. Một vài doanh nghiệp vi phạm pháp luật của nước sở tại, dẫn tới làm mất uy tín của các nhà đầu tư Việt Nam.
    - Nhiều doanh nghiệp Việt Nam không cập nhật các chính sách đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam, không thực hiện chế độ báo cáo định kỳ, không thực hiện việc đăng ký thay đổi nội dung hoạt động ở nước ngoài, hình thức đầu tư ở nước ngoài, quy mô đầu tư ra nước ngoài.
    b) Đối với nước tiếp nhận đầu tư:
    - Hệ thống pháp luật liên quan đến đầu tư của một số nền kinh tế đang trong quá trình sửa đổi, hoàn thiện nên có nhiều thay đổi, không thống nhất, thiếu minh bạch và khó tiếp cận. Tại một số nền kinh tế có sự thiếu nhất quán trong áp dụng chính sách, đặc biệt là các quy định do địa phương đặt ra và áp dụng ngoài các chính sách của nhà nước (ví dụ: chính sách ưu đãi miễn thuế thu nhập doanh nghiệp của Lào được áp dụng trên toàn quốc nhưng địa phương vẫn thu thêm thuế thu nhập).
    - Thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp tại một số nền kinh tế cũng như các thủ tục triển khai thực hiện dự án đầu tư (đất đai, phê duyệt thiết kế.v.v.) khá phức tạp, kéo dài thời gian, tốn kém về chi phí cho doanh nghiệp, thủ tục thông quan phức tạp (ví dụ tại LB Nga, Lào).
    - Lực lượng lao động tại chỗ rất hạn chế, trình độ chuyên môn thấp, tính kỷ luật và tính chuyên cần không cao, rất khó đáp ứng được nhu cầu về lao động của nhà đầu tư cả về số lượng lẫn chất lượng (ví dụ tại Lào).
    - Sự khác biệt về ngôn ngũ cũng là một trong những cản trở hoạt động đầu tư sang nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam.

    IV. TRIỂN VỌNG ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI

    1.Bối cảnh

    Hiện nay, hoạt động ĐTRNN đang đứng trước những yếu tố thuận lợi mới:
    (i) Luật Đầu tư năm 2005 có hiệu lực từ 01/7/2006 và Nghị định 78 hướng dẫn được ban hành đã tạo điều kiện thông thoáng cho ĐTRNN,
    (ii) Cùng với việc phát triển nhanh của nền kinh tế, tiềm lực tài chính của doanh nghiệp Việt Nam sẽ không ngừng gia tăng;
    (iii) Vị thế quốc tế của Việt Nam được nâng cao hơn, quá trình hội nhập quốc tế đang được đẩy nhanh với việc ký kết và thực hiện các Hiệp định song phương và đa phương sẽ tạo thêm thuận lợi cho hoạt động ĐTRNN;
    (iv) Nhu cầu tất yếu phải mở rộng ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam sẽ gia tăng mạnh do đòi hỏi phải mở rộng thị trường xuất khẩu, mở rộng hợp tác kinh tế và kỹ thuật, tiết kiệm chi phí đầu tư, chi phí vận tải, phát huy lợi thế của hội nhập nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư.
    Từ những yếu tố đó, xu hướng đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài trong giai đoạn 2006-2010 sẽ có những chuyển biến quan trọng và tác động tích cực đối với kinh tế trong nước.

    2.Dự báo ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian tới

    Dự báo trong những năm tới (2008-2010) đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam sẽ gia tăng, trung bình mỗi năm khoảng 500 triệu USD, vì những lý do sau đây:
    - Chính phủ tiếp tục ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư ra nước ngoài đáp ứng xu thế các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiết kiệm chi phí sản xuất, chi phí vận tải và khai thác lợi thế của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sẽ gia tăng.
    - Cùng với sự phát triển kinh tế của Việt Nam ngày càng có nhiều doanh nghiệp có tiềm lực về tài chính công nghệ để thực hiện đầu tư ra nước ngoài
    - Việt Nam ngày càng hội nhập sâu, rộng vào đời sống kinh tế quốc tế, nhất là sau khi trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), cơ hội đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp ngày càng lớn, đặc biệt vào các quốc gia thành viên WTO.

    V. CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI

    Để thúc đẩy đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài cần có các cơ chế khuyến khích, ưu đãi của nhà nước Việt Nam đối với nhà đầu tư ra nước ngoài nói chung và đặc thù đối với một số nền kinh tế (Lào, Campuchia, LB Nga), nhưng chính sách khuyến khích, ưu đãi của phía Việt Nam phải được sự ủng hộ và tạo thuận lợi từ phía bạn thông qua thỏa thuận hợp tác song phương giữa các Chính phủ liên quan đến thúc đẩy đầu tư lẫn nhau; hợp tác trao đổi thông tin thường xuyên, có cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý đầu tư của các nước…).
    Ngoài việc xác định những nhân tố ảnh hưởng tới quyết định đầu tư của nhà đầu tư (một môi trường đầu tư thuận lợi, có chính sách khuyến khích đầu tư, khả năng sinh lợi tại nước bạn), thì chính sách của nước đầu tư và nước nhận đầu tư đều cần hướng tới tạo thuận lợi để tiềm năng sinh lợi thành cơ hội sinh lợi và thành lợi nhuận của doanh nghiệp trên thực tế.
    Do vậy, để thúc đẩy ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam cần triển khai các giải pháp sau:
    1. Về công tác quản lý.
    - Tăng cường biện pháp chế tài về thực hiện chế độ báo cáo thống kê định kỳ của các doanh nghiệp để có cơ sở đánh giá tình hình thực hiện các dự án ĐTRNN.
    - Khẩn trương xây dựng đề án về cơ chế hỗ trợ, khuyến khích để thúc đẩy hoạt động ĐTRNN theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trong đó, có những giải pháp đột phá, mang tính chất ”cú hích” để khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam ĐTRNN.
    - Tăng cường công tác xúc tiến đầu tư trong năm 2008 và những năm tới. Cụ thể: thúc đẩy đầu tư của Việt Nam sang một số địa bàn trọng điểm (Lào, Liên bang Nga, Hoa Kỳ, Campuchia) bằng các hình thức tổ chức XTĐT thích hợp, tổ chức biên dịch tài liệu về luật pháp, chính sách, môi trường và cơ hội đầu tư tại một số địa bàn trọng điểm để cung cấp cho các doanh nghiệp, cơ quan quản lý thông qua các ấn phẩm cũng như qua trang tin điện tử;
    - Nghiên cứu trình Chính phủ việc phân cấp quản lý ĐTRNN trong thời gian tới.
    2. Về cung cấp thông tin:
    a. Cơ quan quản lý nhà nước mà Bộ Kế hoạch Đầu tư chủ trì sẽ phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tổ chức thu thập thông tin có thể định kỳ hàng năm biên soạn thành sách bằng tiếng Việt để cung cấp cho các doanh nghiệp trong nước, các doanh nghiệp đang có ý định đầu tư ra nước ngoài về:
    + Chính sách thu hút đầu tư, luật pháp chính sách liên quan đến hoạt động đầu tư, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tại nước sở tại.
    + Các tiềm năng và cơ hội đầu tư trong một số ngành, lĩnh vực cụ thể tại nước sở tại.
    + Các dự án đầu tư cụ thể đã được Chính phủ 2 nước ký thỏa thuận.
    + Các dự án kêu gọi đầu tư nước ngoài của tại nước sở tại.
    b. Cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại các nền kinh tế cung cấp cho các doanh nghiệp đang và sẽ hoạt động đầu tư tại nước sở tại cũng như cơ quan quản lý nhà nước liên quan các loại thông tin sau:
    + Thông tin về chính sách thu hút đầu tư và các chính sách, luật pháp liên quan trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp bằng tiếng Việt (xuất bản sách hướng dẫn đầu tư sang Lào, Campuchia); Thường xuyên cập nhật các thay đổi về luật pháp chính sách để cung cấp cho doanh nghiệp.
    + Định kỳ cung cấp các chỉ số kinh tế vĩ mô của nước sở tại: quy mô, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế…., quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước;
    + Tổ chức thu thập thông tin về các thị trường cụ thể nhà đầu tư quan tâm

    3.Về chính sách hỗ trợ, ưu đãi của Nhà nước
    a. Hỗ trợ nguồn vốn đầu tư:
    Đối với một số dự án đầu tư để thực hiện mục tiêu quan trọng có tác động tích cực tới phát triển kinh tế của nước ta như sản xuất điện nhập khẩu về Việt Nam, khai thác một số khoáng sản thay thế nhập khẩu phục vụ sản xuất chế biến trong nước, đề nghị được hưởng chính sách ưu đãi hỗ trợ về nguồn vốn, cụ thể:
    - Ngân hàng đầu tư phát triển Việt Nam-BIDV cho phép chủ đầu tư vay tối thiểu 30% tổng vốn đầu tư của dự án và cho phép miễn hình thức đảm bảo tiền vay bằng tài sản, được hưởng lãi xuất ưu đãi. Chính phủ có thể đứng ra bảo lãnh vốn vay của doanh nghiệp.
    - Các ngân hàng thương mại trong nước cho vay vốn đối với các dự án đầu tư tại một số nền kinh tế đặc biệt (Lào, Campuchia, LB Nga) trong các lĩnh vực nêu trên và được phép cho vay vượt 15% vốn điều lệ của Ngân hàng Thương mại.
    - Trong một số trường hợp đặc biệt, nhà nước có thể góp vốn cùng với doanh nghiệp để thực hiện dự án, chia sẻ rủi ro với doanh nghiệp.
    b. Chính sách ưu đãi về thuế:
    Có chính sách ưu đãi về thuế đối với các doanh nghiệp đầu tư trong một số lĩnh vực đặc thù (sản xuất điện nhập khẩu về Việt Nam, khai thác một số khoáng sản thay thế nhập khẩu, phục vụ sản xuất chế biến trong nước), cụ thể cho miễn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần lợi nhuận chuyển về nước đã được nộp thuế thu nhập doanh nghiệp tại Lào.
    c. Về thực hiện các hiệp định, thỏa thuận song phương, đa phương:.
    Sớm triển khai và thực hiện thống nhất các nội dung của các hiệp định, thỏa thuận song phương, đa phương giữa Việt Nam với các nước, trong đó có Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư cũng như Hiệp định tránh đánh thuế trùng của Việt Nam với các nước để làm cơ sở cho hoạt động đầu tư của doanh nghiệp mỗi nước.
    d. Về đào tạo lao động:
    Lực lượng lao động tại một số nước sở tại (Lào và Campuchia) còn hạn chế, trình độ chuyên môn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu về lao động của nhà đầu tư cả về số lượng lẫn chất lượng. Do đó, doanh nghiệp Việt Nam bắt buộc phải đưa lao động từ Việt Nam sang với số lượng lớn để làm việc hoặc đưa các lao động người Lào về Việt Nam để đào tạo. Do đó, kiến nghị Chính phủ có cơ chế, chính sách để hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư sang Lào, Campuchia đào tạo các lao động người Lào, Campuchia hoặc đào tạo các lao động Việt Nam sang làm việc tại Lào, Campuchia.
    Các khoản viện trợ, hỗ trợ của Việt Nam cho một số nước (Lào, Campuchia) cần gắn chặt và tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư ví dụ như hỗ trợ đào tạo nghề gắn với các lĩnh vực đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam sang Lào, Campuchia; viện trợ đào tạo các cán bộ cấp xã của Lào, Campuchia tại Việt Nam.
    MNXQ®
    Tình chỉ đẹp khi quần chưa cởi..quần cởi rùi mổi đứa 1 nơi

    ĐẠI CA YÊU TINH HỘI

  5. #5
    Tham gia ngày
    Jul 2009
    Đến từ
    Hồ CHí MInh
    Tuổi
    27
    Bài gửi
    3.371
    Thanks
    0
    Thanked 18 Times in 14 Posts
    Năng lực viết bài
    489

    Mặc định Re: help!

    thanks ma nam nhiều!

+ Viết bài mới

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Tags for this Thread

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình
  •