+ Viết bài mới
Hiện kết quả từ 1 tới 6 của 6

Chủ đề: Hè về

  1. #1
    Guest

    Mặc định Hè về

    (Cuộc điều tra thứ tư của Matt Silvain)
    Tác giả : Michael Gouda and Stefan Schmidt - Người dịch : Vũ Quốc


    Hè về cuộc sống vui tươi
    Cá tung tăng lội, mây trôi lững lờ
    Bạc tiền như nước chảy vô
    Mẹ càng duyên dáng cơ hồ trẻ ra
    Nín đi con chớ khóc la...

    Thơ - Nguyên tác : George Gershwin - Dubose Heyward
    Phỏng dịch : Vũ Quốc


    PHẦN 1


    Thế đấy, đã vào hè, nhưng tôi chẳng thấy "cuộc sống vui tươi" tí nào ! Tôi ngồi ườn ra ghế đá công viên - "ngồi ườn ra" không phải là một từ dùng sai chỗ, chẳng qua để dễ nghe một chút. Tôi ngồi trên ghế băng dài chiếm chỗ gần hết chiếc ghế, hai chân xoạc ra, hai tay duỗi dài trên thành ghế . Tôi hình dung nếu có ai đi qua hẳn là sẽ trố mắt nhìn rồi lắc đầu bỏ đi. Tôi không phải là một cảnh quan xinh đẹp đáng nhìn ở đây. Quần áo bẩn thỉu. Ba ngày chưa tắm giặt và dưới sức nóng, tôi đoán cái mùi từ người tôi bốc ra càng khó ngữi. Nhưng bạn nên ngữi mới đánh giá đúng, chứ nhìn thì vẫn chưa đủ. Tôi cầm chai rượu táo pha cồn và mỗi khi há miệng tôi lại trút cái thứ thuốc độc đáng nguyền rủa ấy vào miệng, một ít tràn qua môi vương vãi trên áo jacket - càng bốc mùi nhiều hơn.

    Follow up:


    Trời nóng bức không nên mặc nhiều quần áo, thế nhưng người người đi lại trên đường vẫn cứ diện vào sơ mi và áo khoác ngoài trước cái nóng mùa hè. Cũng nên thấy rằng một số người không ăn mặc như thế, hãy tưởng tượng nếu họ trông thấy những thứ trên người của tôi đang mặc chắc cũng lộn mửa. Cho dù giặt kỹ vẫn còn thấy kinh khủng, cái quần không vừa với một người có số đo lưng như tôi, cà vạt thắt lòng thòng như dây treo cổ. Một chiếc sơ mi cũ kỹ, chắc đã được mặc từ đời ông đời cha cũng nên. Không cần nói cũng biết là không có cổ áo. Còn chiếc áo jacket thì khỏi nói, không chỉ không hợp với chiếc quần đang mặc, mà còn sờn rách nhiều chỗ, mặc cho ánh nắng xuyên qua . Đôi giày há mỏm, một chiếc mất cả đế. Còn vớ thì tốt nhất đừng nên nhắc đến. Bẩn thỉu như tổ đĩa, cả hai đều như thế.

    Sau nhiều ngày tìm kiếm Adrian, tôi trông như thế này đây.

    Tuần rồi, cha anh ấy đến gặp tôi, một người đàn ông mập mạp, mặt đỏ gay, để ria mép, có hàm răng đen xỉn. Trông ông ấy giống như một kẻ uống quá nhiều rượu, hút quá nhiều thuốc lá - tất nhiên người ông ta bốc lên chẳng khác gì cái mùi tìm thấy trong chiếc gạt tàn. Ông ta khập khiểng đi vào văn phòng mé chân phải còn có thêm chiếc gậy chống thật to.

    "Tôi đã được nghe nói về anh", người đàn ông nói cộc lốc. Giọng nói hách dịch, thô lổ.

    Tôi nhìn ông ta, chờ đợi ông nói tiếp. Ông ta có nói tên mình nhưng tôi không nhớ. Tôi chỉ gật đầu cho phải phép.

    "Và tôi có thể giúp gì cho ông, thưa ông... ?"

    "Ponting", ông ta nói gọn lỏn làm như là tôi đã biết rõ cái tên ấy rồi.

    Bỗng nhiên tôi nhớ ra, "Có phải ông Ponting ở hãng sơn Ponting ?"

    Người đàn ông gật đầu và cặp môi thâm xịt nở nụ cười thỏa mãn. Đáng thương thay, cặp môi ấy lại phô ra hàm răng đen kịt vì bám khói thuốc. "Chính xác như thế", người đàn ông nói.

    Tôi đã có ít nhiều ấn tượng. Sơn của Ponting tất nhiên nổi tiếng cả nước sau vài chiến dịch quảng cáo rầm rộ trên ti vi, ở đó một con chó thật to đã được huấn luyện, cắn chiếc cọ sơn giữa hàm. Không biết sơn tốt cỡ nào nhưng càng quảng cáo nhiều thì có nhiều người biết đến. Quả thực con chó trông rất dễ thương. Người ta biết đến con chó nhiều hơn là thương hiệu hãng sơn.

    "Thưa ông Ponting, có vấn đề gì ạ ?"

    Gương mặt người đàn ông tối sầm, ngay lập tức ông ta trông giống như một gã chủ hiệu thực phẩm ngoài chợ đang nổi lôi đình vì một thằng bé lấy cắp quả táo bỏ chạy, hơn là một ông chủ hãng sơn đáng giá bạc triệu.

    "Thằng Adrian là con trai tôi", người đàn ông nói.

    Tôi gật đầu tỏ vẻ hiểu biết. Lại chuyện con trai, tôi lặng thinh, chuyện lớn rồi đây.

    "Nó bỏ nhà đi rồi", người đàn ông nói tiếp.

    "Sao ông không báo cảnh sát", tôi gợi ý.

    "Tôi không thích", người đàn ông nói,"Anh thấy đấy, nó mười chín tuổi rồi còn gì. Đủ trưởng thành để tự quyết định mọi chuyện".

    Tôi lại gật đầu, "Chắc là có nguyên nhân gì đó. Có lẽ là cãi nhau. Tôi cần biết rõ chi tiết hơn, thưa ông".

    Đó là một việc khó, giống như tìm kim đáy bể, nhưng ngẫu nhiên tôi có tấm hình chàng trai. Arian là chàng trai trẻ ở đại học, học khá xuất sắc năm thứ hai, có triển vọng tốt. Nhưng sau đó thì sự việc chuyển sang một hướng khác, "Nó đi chơi với đám du thủ du thực ấy", tất nhiên điều ấy làm ông bố Ponting thất vọng. Có dấu hiệu anh chàng nghiện ma túy - Ồ, có 90% sinh viên chưa tốt nghiệp đều nếm qua thứ ấy bằng cách này hay cách khác, tôi chẳng hề ngạc nhiên vì điều ấy. Phải có "chuyện rắc rối" gì đó giữa những người trong gia đình như cha mẹ, anh chị em với nhau mà không tiện nói.

    "Tình cờ", ông Ponting nói, "tôi biết được chuyện. Chúng tôi cãi nhau kịch liệt và nó nó bỏ nhà đi mất. Chúng tôi tưởng là nó về trường đại học, nhưng tìm ở đấy không thấy nó. Từ đó đến nay tôi không nghe gì về nó nữa - chuyện ấy xảy ra cách đây 6 tuần".

    "Lần cãi vả sau cùng xảy ra khi nào, thưa ông ?"

    "Ồ, chắc anh cũng hiểu. Chúng tôi, bên nào cũng nói những điều mà thực tâm không muốn nói như thế".

    "Chính xác là nói gì ?", tôi hỏi.

    Ponting đằng hắng. Hình như người đàn ông này đang cân nhắc chuyện gì đó. "Adrian nói nó sẽ sống cuộc sống của riêng nó. Tôi bảo nó không sống nổi nếu không có tiền của tôi, cả đời nó tôi đã tốn bao nhiêu tiền của. Nó không công ăn việc làm, chẳng có năng lực gì thật sự, không thích kinh doanh, không biết vận dụng. Cái gì cũng không hết, tất nhiên sẽ bị đào thải. Nó nói nó có thể làm mọi việc mà không cần đến tôi, không cần tiền của tôi. Thế là nó bỏ đi".

    "Cậu ấy có tiền không ?", tôi hỏi, "thẻ tín dụng chẳng hạn, hoặc vay mượn từ bạn bè, họ hàng, hoặc của mẹ ?"

    Ponting lắc đầu, "Con tôi, tôi biết. Nó chẳng có gì cả".

    "Ông nghĩ cậu ấy có khả năng đi đâu ? Cậu ấy có thể ở nhờ với ai đó được chăng ?"

    "Chúng tôi đã cố tìm mọi chỗ. Bạn bè nó. Không có kết quả. Tôi nghĩ nó đang lang thang ngoài đường, có lẽ ở đâu đấy trong thành phố London này".

    "Thôi được, ông Ponting, tôi sẽ cố hết sức mình".

    Sau đó chúng tôi bàn thêm về điều kiện, mà người đàn ông mau chóng chấp nhận, sau đó bàn chi tiết về cách thức liên lạc, hỏi tên và địa chỉ bạn bè Adrian.... và người đàn ông ký vào bản hợp đồng. Người đàn ông trao tôi một tấm hình của Adrian. Thoạt nhìn, tôi thấy ngay đó là một thanh niên có gương mặt tươi vui, mắt xám, tóc màu vàng nhạt, nhưng nụ cười - nếu nhìn kỹ chỉ là sự vui tươi giả tạo.

    Ponting đứng dậy sắp sửa ra về thì tôi ngăn lại, "Còn một điểm cuối cùng thưa ông", tôi hỏi, "lần cãi nhau cuối cùng thực chất là cãi về chuyện gì ?"

    Người đàn ông vờ vịt khoác tay cố né tránh câu hỏi, "Anh biết rồi đấy", người đàn ông đáp, "toàn là chuyện gia đình thôi".

    "Tôi không biết gì cả", tôi nói, "nhưng tôi cần biết. Có thể đó là yếu tố quan trọng".

    "Tôi không nhớ nữa", người đàn ông đáp, ngay cả khi biết rằng ông ta nói dối tôi cũng không nài ép thêm.

    Vậy là tôi có mặt ở đây, một mình lang thang trên phố, giống như một kẻ không nhà để tìm cái kẻ bất cần đời kia.

    Có nhiều việc cần phải suy tính, đi đâu, làm gì, quan trọng hơn là, cái gì không nên làm. Tránh mặt ai, tìm ở những chỗ an toàn được mệnh danh là "khu vực xanh", đơn giản chỉ có nghĩa là nơi không có những nguy cơ rình rập. Nơi tôi đang ngồi là một trong số những khu vực xanh ấy. Người người qua lại, một số người tỏ ra nghi ngờ, một số khác chỉ ngạc nhiên nhưng không có ác cảm. Tôi dò la một cách cẩn thận, vì không muốn để ai biết thực chất tôi đang tìm người. Tôi có tên, có mô tả nhân dạng, thời điểm xảy ra chuyện, dù vậy tôi vẫn không dùng đến tấm hình. Nhưng không ngon ăn chút nào. Luân Đôn là một chốn rộng lớn. Người tứ xứ tụ tập về đây và tôi chẳng biết bắt đầu từ đâu. Nhưng tôi có chút ít dấu vết. Có người thấy một gã thanh niên theo lời tôi mô tả ở khu vực công viên Finsbury - tôi phải giải thích rằng tôi nợ người ấy một ân huệ và muốn tìm gặp để đáp đền. Cứ hỏi bà "Trưởng lão Cái bang", người này khuyên tôi như thế. Bà ta luôn có mặt ở công viên. Vì thế tôi mới xuất hiện ở nơi này, lười nhác dưới ánh mặt trời và nghĩ xem có cách nào kiếm sống dễ dàng hơn không thì lúc ấy...

    "Chúa ơi ! Matt ! Chuyện gì xảy ra với anh vậy ?"

    Giọng nói của quá khứ, mặc dầu không phải là một quá khứ xa xôi cho lắm. Cái anh chàng Paul Massingham tóc hung, người tình cũ, tôi vẫn yêu, nếu buộc phải thừa nhận, trong tâm tưởng của tôi. Paul dáng dong dỏng cao, mảnh khảnh và đầy vẻ quyến rũ, còn tôi, trông chẳng ra hình dạng gì, chẳng khác nào một cái thùng rác trong ba tháng qua. Tệ thật ! Biết ăn nói làm sao ...

    Và tôi lập tức nhìn thấy kẻ bám sau lưng Paul, hàng lô lốc những chiếc túi nhựa đựng thứ gì đó bên trong mà tôi không rõ - Bà "Trưởng lão Cái bang", chính là người tôi đang mong gặp mặt - vì vậy tôi không cần phải đi đâu xa nữa. Tôi giải thích với Paul một cách mơ hồ.

    "Vì công việc", tôi lẩm bẩm nói qua kẽ răng, "Lâu lắm rồi anh chưa có cơ hội đụng vào ai cả", lần này lời nói lớn hơn cố tình cho người đàn bà kia nghe.

    "Vì cái gì ?", Paul hỏi.

    "Vì em", tôi nói lớn, "Em có thể ngồi đây một chút như bao nhiêu người khác... ", tôi nói nhưng mắt vẫn lơ đãng, "cho anh sờ một chút thôi", tôi nói nhỏ.

    Rõ ràng Paul tỏ ra sững sốt, thậm chí là có thể nổi nóng vì thái độ sàm sở của tôi. Nhưng Paul ngẫm nghĩ gì đó rồi nói, "Anh phải tắm trước đã", sau đó bỏ đi một nước, không quay lại nhìn lần nào. Lẽ ra tôi phải nhìn kỹ để đoán xem phản ứng của Paul thế nào nhưng tôi còn có việc phải làm.

    Người đàn bà được mệnh danh là "Trưởng lão cái bang" - không ai biết tên thật của bà - đang ngồi xổm trên ghế dài kế bên tôi, lưng dựa ra sau thành ghế để ánh mặt trời chiếu lên mặt mình. Quanh người đàn bà này lủng lẳng những túi nhựa, màu đen, loại túi đựng rác. Bên trong chứa những tài sản của bà và bà trông giữ cẩn thận như sợ người khác cướp mất, sẵn sàng nhe hàm răng đen kịt gầm gừ đe dọa nếu có ai đến gần. Bên trong những chiếc túi ấy là tất cả những gì bà có được, từ việc lượm lặt ở các thùng rác nếu may mắn, những món đồ chơi gãy sứt, sách mất bìa, vật dụng bằng nhựa hư hỏng - những gì người ta bỏ đi đều là tài sản của bà.

    Bà mặc bất cứ thứ gì có được, lớp trong lớp ngoài chồng lên nhau, làm bằng những loại vải bẩn thỉu không còn màu sắc ban đầu bây giờ cứ xin xỉn một màu giống như đồng phục, và cái mùi - không có gì so sánh được - cái mùi cũ kỹ giống như thứ mùi bạn ngữi thấy trong nhà thờ đầy bụi bẩn, ẩm thấp hoặc mùi của những quyển sách mục nát.

    Bà ta chẳng hề phải lo lắng gì, ngoại trừ lo người ta sẽ đánh cắp tài sản quý giá của bà. Bà thường phải chịu cơn đói dày vò nhưng cô Sally Ann thỉnh thoảng cũng đến cho bà ít súp và bánh mì. Cái giá lạnh ban đêm bà có thể chịu được, nó là người bạn đồng hành mà bà không hề mong đợi. Sự thật là tôi ngồi kế bên người đàn bà này, bà ta đang ngồi xổm nhe răng gầm gừ đe dọa những kẻ không mời mà tới.

    Người đàn bà đăm đăm nhìn cái chai trong tay tôi, ánh mắt người đàn bà tươi tỉnh tỏ ra dễ thương hơn.

    "Tôi khát khủng khiếp", người đàn bà nói. Cái giọng nói rời rạc và đùng đục cứ như là bà quên nói chuyện từ rất lâu.

    Tôi trao cho bà chai rượu mạnh và bà tợp một ngụm lớn, rồi ngụm khác. Tôi tự hỏi không biết bên trong người bà có thứ gì chưa. Bà đưa chai rượu cho tôi. "Cứ giữ lấy mà uống", tôi bảo mặc dù đó không phải là tính cách của tôi. Thỉnh thoảng có một cử chỉ hào hiệp thì cũng nên, nhưng rộng rãi quá đôi khi cũng khiến người khác nghi ngờ.

    "Cám ơn", bà vừa ợ vừa nói cộc lốc, lộ vẻ ngờ vực, nhưng vẫn không nhận chai rượu. Người đàn bà nhìn tôi đăm đăm cố để hình dung cái gì đang ở trước mắt bà. "Tôi chưa từng thấy anh ở đây", bà nói, nỗi ngờ vực gia tăng.

    Tất nhiên tôi cũng chưa từng gặp bà ta, nhưng tôi biết khá nhiều về người đàn bà này. Mọi người đều biết bà "Trưởng lão Cái bang", và theo lời kể lại, thì bà ta biết mặt hầu hết những người lui tới nơi đây. Đó là lý do vì sao tôi chọn đúng chiếc ghế đá này đúng vào thời điểm này, vì tôi biết rằng đó là chỗ bà ta thường lui tới.

    "Tên tôi là Matt", tôi nói.

    "Ai hỏi tên anh", người đàn bà nói, mặc dầu tôi thừa biết bà sẽ đem cất cái tên tôi vào một ngăn nào đó trong bộ não của bà "Ngủ ở đâu ?".

    Thì ra, điều quan trọng hơn cả cái tên chính là chỗ ngủ qua đêm. "Trạm xe điện", tôi đáp.

    Người đàn bà nhìn tôi rồi nói "Vào khu nhà kho ngủ vẫn tốt hơn ở ngoài công viên Finsbury".

    Tôi nhận ra bà ta đang cho tôi một lời khuyên. Tôi gật đầu và cảm ơn rối rít nhưng trong lòng vẫn dấy lên nổi nghi ngại.

    Một lúc sau tôi bỏ đi, sau khi mời bà uống thêm hai ngụm nữa.

    Sực nhớ một điều, tôi quay lại hỏi "Gần đây bà có thấy Adrian không ?"

    Người đàn bà quệt tay lên miệng lau những giọt rượu còn sót lại. "Tên gì kỳ vậy", người đàn bà nhìn tôi, có vẻ như để khẳng định hơn là thái độ phê phán. "Adrian già hay trẻ ?"

    "Anh chàng Adrian trẻ ấy".

    Người đàn bà ắt hẳn cũng có đôi điều thắc mắc trong đầu - hoặc ít ra tôi cũng đoán bà ta đang thắc mắc - dù vậy bà vẫn phun ra từng câu rời rạc "Có thấy, tuần rồi", bà nói, "Đi ngược lên phía Bắc".

    Ở Reykjavik, tôi muốn điên cái đầu, hay ở Bắc Cực, hay một chỗ nào đó xa hơn. Cái ý nghĩ đó khiến tôi gần như chết cứng ngay lúc đó.

    "Công viên Belsize".

    "Có phải cái anh chàng Adrian tóc vàng", tôi kiểm chứng cho chắc ăn.

    Người đàn bà gật đầu "Đúng đấy", bà nói.

    Tuyệt thật, tôi nghĩ thầm, trong khi đang đổ mồ hôi vì ánh nắng mặt trời. Tôi tự nhủ nếu có chút ít thông tin gì về lần cãi nhau cuối cùng của gia đình họ thì hay biết mấy. Không có chút đầu mối nào. Dù là gay hay đàn ông chính hiệu, thì một người sống lang thang cũng cần có khả năng và sự thích nghi mới có thể tồn tại được.

    Công viên Belsize. Một ngọn đồi dốc bên ngoài trạm xe điện ngầm, phải đi ngược lên Hampstead Heath, rồi xuống thị trấn Camden. Một dãy phố các cửa tiệm đối diện nhau, cửa hàng rau quả, cửa hàng bán thức ăn chế biến sẳn, dịch vụ lữ hành, tiệm bánh ngọt. Tôi vào con phố mua một khúc xúc xích. Người phụ nữ sau quầy rõ ràng không mong muốn tôi bước vào cửa hiệu sạch sẽ của bà - cũng khó trách bà ấy, nhưng bà ấy bán hàng cho tôi mà mặt mày nhăn nhó, khó chịu.

    Tôi bước ra ngoài tìm một chỗ ngồi - một chỗ dành cho khách bộ hành nghỉ chân. Một người đàn ông đứng tuổi - bề ngoài giống như một gã có "tâm hồn tự do" (ND : dân bụi đời) - tôi đoán thế - đang ngồi đầu ghế bên kia. Người này mặc một áo choàng xám dài tới mắt cá chân, bên dưới là đôi giàu xăng-đan. Bên trong, những ngón chân đen xì trông giống như nhúng bùn, còn mắt cá xây xát. Tôi ăn khúc xúc xích, lấy chai rượu táo pha cồn trong túi, chuẩn bị trò chuyện, tôi đưa chai về hướng người ấy.

    "Thứ này sẽ giết anh mất", người đàn ông nói với vẻ hiểu biết. Đôi mắt nhìn tôi, cặp chân mày nâu nhíu lại. Trông người này không khỏe mạnh lắm. Nước da xanh mét trên gương mặt lấp lánh mồ hôi, một ngày nóng bức thế này mà người này vẫn mặc áo khoác ngoài dày cộp.

    "Anh nói đúng", tôi nói, "không ngại uống một ngụm chứ ?".

    "Nếu muốn tự sát, thà rằng tôi về nhà chui đầu vào bếp ga còn hơn".

    Tôi không có ý định chỉ ra rằng, ga đốt không phải là thứ giết người tức thì, nó phải tràn ngập gian phòng cho tới khi không còn oxy rồi mới làm cho bạn chết ngạt. Rõ ràng người này không phải là dân bụi đời như cái vẻ bề ngoài. Tuy nhiên điều ấy vẫn có thể đúng, nếu như người đàn ông là "khách mối" của ghế đá này, nơi có thể ngắm nhìn mọi thứ diễn ra, hiểu biết và ít nhất là có chú ý sự việc diễn ra xung quanh.

    "Xin lỗi ông", tôi nói, "Ông có thấy đám con trai hò hẹn quanh đây không ?"

    Người đàn ông vênh mặt hỏi, "Cái gì khiến anh nghĩ tôi tới đây kiếm trai ?", gã nói, một câu nói gai góc nếu không nghĩ đó là phản ứng tức giận của người đàn ông.

    Tôi nhận ra mình đã phạm sai lầm. "Ồ không, tôi không có ý đó. Tôi đang tìm người. Có người nhìn thấy người tôi tìm ở công viên Belsize. Tên cậu ấy là Adrian".

    "Tôi không quen cái tên ấy. Người này trông thế nào ?"

    Tôi lấy tấm hình trong túi đưa cho người đàn ông. Người này rụt rè cầm lấy nhưng sau khi liếc sơ qua thì người đàn ông xăm xoi nhìn kỹ hơn, sắc mặt biến đổi và gần như muốn nhảy dựng lên. "Có đấy", người đàn ông nói, "Tôi có thấy người này. Tôi nhớ màu tóc. Trông anh chàng không vui vẻ gì. Tôi nghĩ anh ta sợ thì đúng hơn. Thỉnh thoảng cứ ngoáy ra sau nhìn, cứ như là có ai theo dõi anh ta vậy".

    "Ông gặp lúc nào ?", tôi hỏi.

    "Sáng nay. Cách đây vài giờ, tôi đoán thế. Chắc là vào khoảng 7 giờ".

    "Cậu ấy đi đâu ?"

    "Lên đồi Rosslynl. Đi về phía Hampstead". Người đàn ông hất hàm về bên phải ra dấu.

    Tôi định đứng lên nhưng chợt nghĩ ra một điều, "và ở chỗ đó sao ?", tôi hỏi.

    "Cái gì ở đó ?"

    "Người theo dõi cậu ấy đó ?"

    "Tôi không biết nhiều như thế đâu. Mà cũng không thấy ai cả", người đàn ông dừng lại một chút rồi nói tiếp, "ngoại trừ anh".

    Tôi mỉm cười, đứng dậy.

    "Ừ, có lẽ tôi cần uống một chút", người đàn ông nói.

    Thấy tay người đàn ông run run, tôi đưa chai rượu cho người này.

    Đồi dốc, trèo lên ngọn đồi làm tôi mướt mồ hôi. Tôi đi qua một bệnh viện ở phía tay phải, đi theo con đường xuống bên dưới. Vừa qua khu Flask Walk thì thấy có hai người đàn ông dựa lưng vào tường bên ngoài quán rượu "The Flask". Hai người này tay cầm hai ly bia lớn, trông phát thèm. Trông họ vô hại nhưng cũng khó bắt chuyện.

    "Xin chào", tôi nói, "tôi đang tìm người này, nếu có thấy vui lòng chỉ giúp", tôi đưa tấm hình cho họ xem.

    Họ nhìn tôi bằng ánh mắt nghi ngờ, đây không phải là lần đầu tiên, ước gì tôi về nhà được để thay đổi cái bộ dạng "ma cà bông" của mình để trở thành một quý ông lịch thiệp, bây giờ ai nhìn tôi mà không ngờ vực mới lạ.

    "Tìm để làm gì ?", một người hỏi.

    "Ê này, không phải là cái thằng hỏi anh mấy giờ rồi chứ ?", người kia nói, rõ ràng có ý biếm nhẽ, "còn anh thì bảo tự mua đồng hồ mà xem đấy sao ?".

  2. #2
    Guest

    Mặc định Re: Hè về


    Phần 2


    "Xin cảm ơn các ngài", tôi nói với vẻ thản nhiên để che dấu giọng mỉa mai và đi ngay lập tức, theo sau là tiếng la ó, chửi rủa "Đồ dâm đãng, lũ đồng dâm khốn nạn". Nhưng lời chửi rủa ấy không có ý đe dọa và không ai muốn đuổi theo.

    Đoạn bên trên con đường là quán rượu "William đệ tứ" nhưng tôi bỏ qua. Trông chỗ đó cũng thiếu lịch sự và e rằng tôi cũng không nhịn được. Tôi cố nhìn vào sân nơi mấy tay bợm nhậu đang ngồi bàn văng tục ồn ào. Adrian, người tôi tìm chắc không ở trong số những người kém văn hóa này.

    Tôi rẽ phải tại trạm xe điện Hampstead, ngẫu nhiên đây là chỗ sâu nhất trong toàn bộ hệ thống xe điện ngầm ở Luân Đôn, và dẫn tới đường Heath bên trên, hơi dốc một chút, tuyến đường xe điện ngầm sẽ chạy tới hồ Round, lâu đài Jack Straw để lên đường Health.

    Đến nơi, tôi nghe tiếng còi rúc lên. Một số người đang say mê đứng xem số nam sinh đang đua thuyền quanh hồ. Một xe cảnh sát, một xe cứu thương chạy dọc theo đường Spaniards hụ còi ầm ỉ, nhân viên cảnh sát và nhân viên y tế đổ xô vào con đường hẹp dẫn tới một khu vực cây cối um tùm được gọi là đường Heath nối dài. Bỗng dưng tôi cảm thấy lạnh xương sống nên lật đật chạy theo họ. Cách đó khoảng 100 yards khu vực bên dưới rừng cây, có một người cầm điện thoại di động đứng đó. Lúc cảnh sát đến nơi, người này chỉ vào bụi cây mâm xôi bên vệ đường. Tôi thấy có người nằm đó, mặc đồ màu xanh, tóc vàng cắt ngắn.

    Một nhân viên y tế quỳ bên cạnh đang bận rộn với việc cấp cứu. Một viên cảnh sát quay lại, đối diện với tôi và những kẻ hiếu kỳ đến xem.

    "Không có gì hết", viên cảnh sát nói, "Xin lùi lại đi, đừng cản trở công việc của cảnh sát".

    Tôi hít một hơi dài rồi nói, "Tôi biết người này".

    Viên cảnh sát nhìn tôi từ đầu tới chân, nhìn bộ quần áo như tổ đĩa, khó có thể tin lời một gã như thế này, vì thế người cảnh sát này nói "Đây không phải là chuyện đùa, thưa ông". Tôi có thể hiểu cái gọi là "thưa ông" kia hàm ý gì.

    Tôi lấy ra tấm hình và đưa cho viên cảnh sát xem. "Có đúng là người này không ?"

    Viên cảnh sát cầm tấm hình xem qua rồi quay lưng đi tới đám người đang vây quanh cái thi thể kia. Họ trao đổi gì đó, cô nhân viên y tế đứng dậy, lắc đầu, sau đó có một viên hạ sĩ cảnh sát xoay người lại ra dấu bảo tôi đến gần, những người khác hiếu kỳ cũng muốn đến xem nhưng đều bị chặn lại.

    Chàng trai nằm ngữa, ánh nắng xuyên qua cành lá chiếu trên gương mặt. Mắt mở trừng trừng, miệng há to giống như đang la lên. Mái tóc vàng rũ rượi. Cái vật màu xanh mà tôi nhìn thấy là chiếc áo pull. Khi tôi đến nơi thì người ta đã đặt chàng trai lên băng ca, tôi thấy sau gáy chàng trai có một vết màu nâu sẫm. Có ai đó đập vào gáy chàng trai.

    "Thôi được, con trai", viên hạ sĩ cảnh sát nói, "tốt hơn hết là kể cho chúng ta nghe về những điều con biết đi nào".

    Sau đó, tức là sau khi tôi trình "giấy ủy nhiệm" (tức tấm hình), thì tôi giải thích sự có mặt của mình, thực hiện việc tìm con theo yêu cầu của cha Adrian Ponting, rồi cách tôi theo đuổi chàng trai từ công viên Finsbury cùng với việc thu thập thông tin từ nhiều người trên đường tới đây như thế nào, và những người biết rõ sự việc làm chứng cho tôi, thế là tôi được phép về nhà.

    Coi như công việc đã kết thúc. Tôi đã tìm được Adrian và ngay lúc này hẳn là ông Ponting đã nghe được tin tức. Tôi hiểu rằng mình có thể liên lạc với ông ấy chậm một chút cũng không sao, nếu như ông ấy không chủ động liên lạc với tôi trước. Nói vắn tắt, tôi nghĩ về món thù lao của mình. Tôi cởi bộ quần áo kinh tởm của mình và bước vào vòi sen, ở đó tôi bỏ ra nửa giờ để tẩy rửa những chứng tích của nhiều ngày không tắm gội. Nhưng khi nghĩ đến cái thi thể chàng trai tên Adrian thì tôi không thể ngâm mình lâu hơn được.

    Không thấy đói cũng không muốn ở một mình. Tôi có thể điện thoại cho những người mình quen biết nhưng tôi biết rằng nếu tôi liên lạc được thì sẽ bắt đầu bằng câu chuyện về chàng trai Adrian, nhưng tôi không muốn thế. Vì với hầu hết trong những người này, câu chuyện sẽ trở thành một chuyện tục tĩu, dâm ô, tôi quá quen chuyện ấy rồi. Rồi tôi chợt nhớ tới Paul. Tôi còn nợ chàng trai một lời giải thích sau lần gặp nhau sáng nay. Phải chăng tôi muốn quan hệ trở lại với cậu ấy ? Thời gian qua, việc chia tay nhau đã là một chịu đựng khó khăn. Tôi quay số. Nếu như cậu ấy không có nhà, thì tôi sẽ coi như không có chuyện gì.

    Đến hồi chuông thứ ba, Paul trả lời điện thoại, nghe tiếng cậu ấy mà hai đầu gối tôi phát run. Hy vọng không lộ ra qua giọng nói của tôi.

    "Xin lỗi về chuyện sáng nay", tôi nói, "Chắc hẳn em nghĩ rằng anh đã bỏ qua dịp may của mình".

    "Chúa ơi, Matt", Paul nói, "Em không nghĩ vậy đâu. Nếu anh không mở mắt nhìn, có lẽ em đã dúi tờ giấy 10 pao vào bàn tay bẩn thỉu của anh rồi".

    "Anh không đáng giá hơn 10 pao hay sao ?", tôi hỏi đùa.

    Dù vậy, giọng nói của Paul vẫn tỏ ra nghiêm túc "Anh chỉ đáng chừng ấy mà thôi", chàng trai nói, hai đầu gối tôi va vào nhau. "Mọi chuyện như thế nào vậy ?"

    "Đó là một câu chuyện dài", tôi đáp.

    "Có muốn kể cho em nghe không ? Nếu rảnh, mình đi kiếm thứ gì uống đi - nhưng anh phải tắm trước mới được !"

    Tôi đang rảnh, lại vừa tắm xong. Ngữi mùi cũng không đến nổi mất mặt, tôi nghĩ thầm như thế. Chúng tôi gặp nhau tại quán "Thanh gươm và Khẩu súng" ở đầu đường, chỗ rẽ vào nhà Paul. Tôi có xe riêng, nhưng Paul thì không.

    Tôi ngồi đối diện và chăm chú nhìn Paul, cứ như mới lần đầu gặp nhau. Tóc hung, thẳng nếp nhờ vuốt gel. Mày đậm. Tôi quan sát gương mặt chàng trai, trẻ trung, tươi tỉnh. Tôi có thể nhớ từng đường nét trên cơ thể chàng trai với làn da mềm mại, mịn màng. Đôi mắt nâu vô tư và nụ cười quyến rũ.

    Chàng trai ít nhiều có thay đổi không mặc "hàng hiệu" nữa, bây giờ đang mặc chiếc áo pull trắng, càng trông sạch sẽ và khỏe khoắn. Nhìn chỉ muốn lột trần, tôi nhận ra mình đang bị kích động. Nhưng tôi đã cắt đứt quan hệ và tự hỏi không biết mình có còn cơ hội nữa không.

    "Rất vui vì gặp lại anh, Matt", Paul nói, "Em nhớ anh nhiều lắm".

    "Coi nào, chắc là chỉ mới nhớ từ lúc sáng phải không ?".

    Chàng trai nhăn mũi cười, đúng như điều tôi đã hình dung, trí nhớ của tôi cũng còn tốt chán. "Luôn nhớ anh. Không bao giờ anh tỏ ra nghiêm túc, dù chỉ một lúc".

    "Có lẽ anh không muốn đau khổ lần nữa".

    Chàng trai nhìn thẳng vào mắt tôi thật lâu, tôi cảm thấy lúng túng, nhưng không biết phải nói gì hoặc làm gì. May thay tôi chợt nhớ chuyện ban sáng, nên cũng thoát khỏi tình trạng ngượng ngập này, "Anh cá là em rất muốn biết chuyện gì xảy ra lúc sáng".

    Paul thở dài, "Em cũng không biết mình nghĩ gì nữa".

    Tôi kể cho Paul nghe những nét chính của câu chuyện, rằng làm thế nào mà người cha đến thuê tôi tìm con trai, rằng ông ta sợ con gặp nguy hiểm ngoài đường, về chuyện bà "Trưởng lão Cái bang" chỉ tôi tới Hampstead và người đàn ông trung niên mặc áo khoác xám ở đường Heath. Rồi sau đó là chuyện tìm thấy tử thi của Adrian Ponting.

    "Ai, anh nói ai ?", Paul hỏi.

    "Adrian Ponting", tôi đáp.

    "Có phải con ông chủ hãng sơn Ponting không ?

    Tôi gật đầu.

    "Nhưng em biết, à... trước kia có biết cậu ấy".

    "Em có ngủ với cậu ấy chưa ?", tôi hỏi trước khi kịp ngậm miệng lại. "Xin lỗi, anh chỉ hơi tò mò một chút".

    "Một lần", Paul đáp, "Cậu ấy bị rối loạn thần kinh. Cậu ấy sợ đến phát bệnh khi nghĩ đến việc cha mẹ phát hiện cậu ấy là người đồng tính".

    "Họ biết rồi", tôi nói, "Anh chắc vì thế mới có vụ cãi nhau".

    "Và bây giờ cậu ấy đã chết. Cảnh sát nghĩ gì ?"

    "Có ai đó đập vào gáy cậu ta rồi bỏ trốn mất".

    "Nhưng, xảy ra giữa ban ngày hay sao ? Nghe không lọt tai chút nào".

    Tôi tán thành, "Cậu ấy đang ở chỗ mà dân gay thường ra đấy hò hẹn, dù khó có thể tin vụ việc xảy ra vào giờ ăn trưa, nhưng người ta vẫn xác định trong một khoảng thời gian gần đấy".

    "Vậy không ai làm gì sao ?".

    "Họ sẽ điều tra, anh đoán như thế, nhưng có thể cậu ấy chết sau hai giờ thì người ta mới phát hiện. Khoảng thời gian ấy đủ để thủ phạm cao chạy xa bay. Và nếu như không có đầu mối liên quan tới kẻ tấn công Adrian, thì hơi khó tìm vì chỗ ấy khá hẻo lánh".

    "Cậu ấy không nên đi ra ngoài mới phải", Paul nói, "Anh định làm gì với vụ này ?"

    "Anh ư ?", tôi nhìn chàng trai hầu như không nói được lời nào. Nhưng sau đó thì tôi cũng tìm được lời để nói, "Về nhà, anh có thể làm gì được ? Hơn thế nữa, anh cho rằng công việc mình đã kết thúc. Anh đã tìm ra Adrian. Nhiệm vụ đã hoàn thành".

    Paul lại nhìn tôi, tôi có thể trông thấy cậu ấy tỏ ra thất vọng. Tôi tìm cách chống chế, "Nếu cảnh sát không tìm ra được kẻ giết người, thì anh còn làm gì được nào ?".

    Paul vẫn nhìn tôi không nói. Đến nước này thì tôi phải đầu hàng thôi. "Thôi được. Anh sẽ dò hỏi quanh đấy xem sao. Để anh tìm xem có ai lảng vảng gần đấy vào lúc ấy hay không. Biết đâu họ có thể cho mình biết đôi điều mà họ không nói với cảnh sát". Đột nhiên, tôi nhớ một chuyện. "Anh có gặp một người đàn ông trung niên ở bên ngoài khu vực trạm xe điện - công viên Belsize, người này nói trông Adrian hoảng sợ lắm. Còn nói rằng cậu ấy cứ ngoáy nhìn sau lưng như có ai theo dõi cậu ấy".

    Paul mỉm cười. Tôi cảm nhận một bàn tay ấm áp đặt lên gối tôi, bên dưới gầm bàn. "Em biết anh sẽ làm mà". Tôi đặt tay lên bàn tay ấy. Hai chúng tôi ngồi sát, má tựa vào nhau. Tôi muốn hôn chàng trai.

    "Em tin rằng anh sẽ làm", chàng trai lập lại, "Anh thật tử tế".

    Tôi tự hỏi, nếu đó là bất kỳ ai khác liệu rằng Paul có đòi hỏi tôi phải đi điều tra hay không. "Làm cho anh đi", tôi nói.

    Bàn tay chàng trai nhẹ nhàng di chuyển từ gối lên phía trên, lần tới háng tôi. "Muốn về nhà em không ?", chàng trai hỏi.

    Có chứ ! Tất nhiên là có rồi !

    Con cặc tôi bắt đầu cựa quậy. Nhưng....

    "Lần cuối, mình làm hấp tấp quá", tôi nói.

    Không thấy Paul biểu lộ tình cảm gì nhưng bàn tay chàng trai vẫn mò mẫm giữa háng tôi. Tôi nghĩ rằng chàng trai hiểu ý mình. Tôi hôn chàng trai trước khi lên xe về nhà. Ở lối ra vào một cửa hàng, nơi đó không ai thấy chúng tôi. Chàng trai ép sát người vào tôi. Tôi suýt thay đổi ý định không về nhà nữa nhưng chàng trai đẩy tôi ra và bỏ đi không quên nói, "Mong sớm gặp lại anh". Tôi hy vọng đó không phải là sáo ngữ.

    Sáng hôm sau tôi có việc phải đi sớm. Ý tôi là thật sớm.

    Bốn giờ. Trước khi bầy chim sẻ chíu chít ngoài cửa sổ, thì có một tiếng ầm ngay cửa trước. Không kịp bật dậy, mắt nhắm mắt mở chỉ thấy đồng hồ báo giờ trên radio chỉ 4 giờ 01 phút, lúc ấy có tiếng la bên ngoài" Cảnh sát đây", rồi nghe có tiếng chân thình thịch ngoài cầu thang.

    Hai người to cao ập vào phòng ngủ của tôi - cũng không kịp kêu ca phàn nàn, thì lần này càng đáng sợ hơn, hai người lôi xềnh xệch tôi ra khỏi giường, lúc ấy tôi còn trần truồng và đọc lệnh, "Chúng tôi bắt ông vì nghi ngờ ông có liên quan đến vụ sát hại Adrian Ponting. Ông không cần nói gì vì điều ấy sẽ khiến ông lâm vào cảnh bất lợi, mọi điều ông cần trình bày khi được thẩm vấn sẽ là chứng cứ trước phiên tòa. Ông hiểu rõ chứ ?'

    "Không", tôi nói, nhưng họ chẳng đếm xỉa gì, bắt tôi mặc quần áo vào và đi xuống trạm xe điện ngầm.

    Thấy tranh cãi cũng vô ích, tôi làm theo những gì họ bảo. Họ cho phép tôi đi tiểu nhưng vẫn để một người đứng bên cạnh trông chừng, sau đó tôi theo họ vào xe cảnh sát, không quên đóng cánh cửa bị phá hỏng lại để tránh người lai vãng khi tôi vắng nhà.

    "Sẽ có nhân viên cảnh sát quay lại lục soát chỗ này", một viên cảnh sát nói, một câu nói làm tôi đâm bực bội. Tôi có một số hình ảnh "tươi mát" trên đĩa cứng. Tôi không nghĩ những thứ ấy vi phạm luật pháp nhưng ai biết chuyện gì sẽ xảy ra ?

    Tại cơ quan cảnh sát, Họ khám xét tôi cẩn thận để chắc rằng trên người tôi không mang theo thứ gì, dù chính mắt họ trông thấy tôi mặc quần áo vào trước đó, rồi sau đó tống tôi vào xà lim. "Tôi cần gọi một luật sư", tôi nói.

    "Chuyện ấy để sau", viên hạ sĩ chấp pháp nói. "Giờ này không có luật sư nào làm việc đâu", dĩ nhiêu điều này không sai, dù chẳng làm tôi vui lên chút nào. Tôi cố nghĩ xem chuyện gì xảy ra. Không có cách gì mà tôi có khả năng xuất hiện ở đâu đó gần đường Heath đúng vào lúc Adrian bị giết. Người đàn ông mặc áo choàng xám sẽ làm chứng, cho họ biết rằng lúc ây tôi còn ở công viên Belsize, và sau đó là mấy thằng cha ngoài quán rượu.

    Nói gì đi nữa, nếu tôi thật sự giết Andrian, tại sao tôi phải quay lại hiện trường để xác định có phải là anh ta hay không và còn lộ diện trước cảnh sát nữa chứ ? Không ai ngu ngốc làm như vậy. Bỗng nhiên tôi nhận ra rằng mình đang rơi vào một tình huống bất lợi nên cảm thấy hơi sợ.

    Một lát sau, một nhân viên cảnh sát mang cho tôi một tách trà sữa. Tôi đành uống mặc dù chẳng thích thú gì với loại thức uống này. "Nhân viên điều tra sẽ đến đây lúc 8 giờ sáng", người này nói với tôi.

    Tôi ngồi trên ghế băng cứng ngắc, chờ đợi.

    Một vài "thế kỷ" sau, người ta gọi tôi vào thẩm vấn, một gian phòng nhỏ, không cửa sổ, tường toàn một màu sơn xanh trông đã phát nôn, thoang thoảng mùi thuốc khử. Một bàn, ba ghế . Hai người mặc cảnh phục ngồi kèm tôi ở giữa. Hai người tự giới thiệu là Thanh tra Rees và thám tử Parry. Rees là người cao gầy trông cứ như là một thằng ốm đói. Parry thì còn trẻ, tướng tá dễ coi.

    Tôi hiểu mình nên im lặng nhưng tôi không thể nhịn được, "Tất cả chuyện này là như thế nào ?".

    "Hẳn là ông đã được lưu ý trước rồi chứ", thanh tra Rees hỏi. Ông ta quay sang người đồng sự "Cho hỏi, ông Silvain chưa được thông báo gì sao ?". Giọng ông ta khô khốc, có phần gay gắt.

    "Tôi chẳng hiểu gì hết", tôi nói, "ngày hôm qua tôi mới ở đây. Các ông đều hài lòng về những chuyện tôi kể lại".

    Rees mở cặp hồ sơ trên bàn. Ông ta mở nhưng chẳng buồn nhìn. "À vâng. Ông đã nói rằng ông nhận được sự ủy thác của ông Bernard Ponting để tìm đứa con trai cho ông ta tên là Adrian".

    "Đúng vậy", tôi đáp.

    "Chúng tôi đã thông báo cho ông Ponting về cái chết bất ngờ của con trai ông ta. Ông ta khai là không biết gì về ông cả, ông ấy còn phủ nhận rằng không hề yêu cầu ông tìm kiếm con trai ông ta".

    Tôi như bị tát vào mặt, không nói được tiếng nào. Tôi nhận ra tình huống tồi tệ ngay trước mắt - tôi đã sa chân vào cái bẫy trong chính công việc của mình.

    "Tôi cần gặp một luật sư", tôi nói.

    "Ông có sẳn người nào chưa ?", Thanh tra Rees hỏi với giọng mềm mỏng lịch sự.

    Tôi ư, dĩ nhiên là không có rồi. tôi chưa từng gặp trường hợp nào phải cần đến luật sư, nên chẳng biết được tên người nào. Tôi lắc đầu.

    "Ông được quyền yêu cầu tư vấn pháp lý", thanh tra Rees nói, "Chúng tôi có thể tìm cho ông một luật sư. Nhưng không may là ông ấy chỉ bắt đầu làm việc vào 9 giờ 30".

    "Vậy thì tôi sẽ không nói bất cứ điều gì cho tới khi ông ấy đến đây", tôi đáp.

    Thanh tra Rees thở dài, cứ như là tiếng thở dài hoàn toàn ngẫu nhiên. "Ông Silvain", viên thanh tra nói, "có thể chúng ta trò chuyện một chút để xem xét lại toàn bộ sự việc trong khi chờ luật sư đến đây".

    Bắt kẻ sát nhân trong một thời gian ngắn vài giờ chẳng phải là có chứng cứ phạm tội hay sao ? Nghe như chẳng có gì cần phải xem xét hay sắp xếp sự kiện để mà làm gì.

    "Dĩ nhiên, ông có đầy đủ mọi quyền theo luật định, nhưng hãy đặt mình vào bối cảnh của chúng tôi. Ông có một câu chuyện lạ lùng để coi đó là lý do theo dõi nạn nhân, và lý do đó lại bị bác bỏ bởi chính người ông chỉ danh".

    "Nhưng tôi đâu có mặt gần đường Heath trong lúc anh ta bị sát hại".

    "À vâng, người đàn ông mặc áo choàng xám và hai thằng côn đồ ở bên ngoài quán rượu. Tôi e rằng chúng tôi không thể tìm được bất kỳ ai trong số họ. Nhưng ngay cả khi đúng như lời ông nói, vẫn còn có khả năng giết Adrian, sau đó quay lại công viên Belsize, rồi trở lại đường Heath".

    "Tại sao phải làm như thế ?"

    "Vâng, đó vẫn còn là câu hỏi, đúng không ? Động cơ gì để ông ra tay giết Adrian Ponting, một thanh niên mà ông đã từng nói rằng chưa hề quen biết, chưa từng gặp trước đó". Viên thanh tra ngồi dựa ngữa ra ghế nhìn tôi. Chuyện này vượt xa sự mong đợi của tôi. Sự tự tin của tôi bắt đầu lung lay.

    Đến lúc này Parry mới nói.

    "Ông là người đồng tính phải không ?", người này hỏi.

    Anh biết người đồng tính làm gì với nhau không ? Đợi chừng nào có, tôi sẽ cho anh biết. Câu chuyện đùa cũ kỹ hiện ra trong đầu. Tôi không thích chút nào. Không nghi ngờ gì nữa, họ đã tìm thấy "chứng cứ" là những tấm hình trên máy tính của tôi. Rõ ràng họ không tìm được thứ gì đặc biệt có liên quan vụ án này, bằng không họ đâu có đưa ra mấy chuyện liên quan giới đồng tính. Tất nhiên là không có chuyện căm ghét hay kỳ thị gì ở đây. Nhưng chuyện ấy khó có sức thuyết phục được. Mà tôi cũng khó lòng phủ nhận. Những thứ này không liên quan gì đến công việc của họ. Bỗng nhiên, tôi cảm thấy mình khá an toàn.

    "Vâng, chính thế", tôi đáp, "Việc này không vi phạm pháp luật, chắc ông cũng thừa biết rồi đấy".

    Parry đành phải rút lui, bây giờ tới phiên thanh tra Rees dấn tới tấn công, "Và nếu như ông cố tình gạ gẫm làm chuyện đó với Adrian Ponting trong lúc anh ta lảng vảng trong rừng cây, và với bộ dạng và cái mùi khó ngữi của ông lúc đó, anh ta "đá đít" ông, thì ông vẫn có thể nổi điên và vỗ nhẹ vào gáy anh ta..."

    "Vỗ nhẹ ư ?", tôi ngạc nhiên nói vì nhớ lại vết loang của máu sau gáy chàng trai, "Chúa ơi, còn nặng hơn thế nữa kia".

    "Vâng, chẳng qua đó là chuyện rủi ro", thanh tra Rees nói, " Adrian Ponting có cấu trúc vỏ não rất mỏng. Có lẽ anh ta chẳng thể nào biết chuyện ấy, nhưng bất kỳ va chạm nào ở đó đều có thể giết chết anh ta". Viên thanh tra nhìn thẳng vào mắt tôi "Chuyện xảy ra thế nào ?".

    "Làm sao tôi biết được chứ"

    "Vậy chuyện của anh ?"

    "Giống như tôi đã kể cho các ông nghe ngày hôm qua". Không thấy ai nói gì. Tôi cố giữ bình tĩnh. Sau đó nói tiếp, "Các ông không cần ghi âm hay sao ?"

    "Chỉ là nói chuyện ngoài lề", thanh tra Rees nói, "Không cần phải hình thức như thế".

    Có tiếng gõ ngoài cửa. Rees trông bực bội ra mặt. Một nhân viên cảnh sát mặc cảnh phục bước vào và thì thào to nhỏ bên tai viên thanh tra. Thanh tra Rees trông càng bực tức hơn. Ông ta đứng dậy bước thẳng ra cửa. Khi đi ngang qua tôi, ông nói, "Cuối cùng thì ông cũng có luật sư rồi. Rõ ràng có ai đó muốn luật sư tới sớm vài giờ".

    Cánh cửa đóng lại, chỉ còn mình tôi ngồi với Thám tử cảnh sát Parry. Ông ta nhìn tôi và tôi cũng nhìn ông ta. Ông ta có đôi mắt nâu xinh đẹp. Nếu như bạn ngưỡng mộ kiểu người tập thể hình, thì ông ta chính là mẫu người lý tưởng. Tôi mỉm cười, còn viên thám tử quay mặt nơi khác. Ông ta biết rõ tôi là người đồng tính và tôi cũng đang ngưỡng mộ ông ta, nhưng tất nhiên ông ta không thích "lăng nhăng" với tôi, không muốn với một kẻ bị tình nghi là kẻ sát nhân, ngay trong phòng thẩm vấn, ngay trong cơ quan cảnh sát địa phương. Lúc ấy tôi tự cho phép mình chuồi người ra mặt bàn nghỉ ngơi. Dù ở tình huống nào, tôi cũng cảm thấy bên dưới bẹn bắt đầu ngọ ngoạy rất khó chịu.

    Sau đó cửa mở, thanh tra Rees quay lại, lần này đi cùng là một người đàn ông vừa già vừa trẻ, thoạt nhìn trông rất trẻ nhưng tới khi nhìn sát thì thấy dấu chân chim ở đuôi mắt, thấy chiếc cằm hơi chảy xệ, thấy mái tóc lốm đốm bạc bên thái dương. Đây là luật sư của tôi ư ? Từ trước tới giờ tôi chưa từng gặp người này bao giờ.

    "Tôi muốn được nói chuyện riêng với thân chủ của tôi", người đàn ông nói.

    Thanh tra Rees lầm bầm gì đó và hất hàm về phía thám tử Parry. Hai người rời khỏi phòng thẩm vấn. Người đàn ông chìa tay, chúng tôi bắt tay nhau. Lòng bàn tay người này khô, thô ráp.

    "Tôi là Grant, thưa ông Silvain, tên đầy đủ là Alisdair Grant". Người đàn ông nói giọng Tô Cách Lan, rất mềm mỏng. "Bạn ông là Paul Massingham đã gọi điện cho tôi từ sáng sớm và cho tôi hay ông cần được giúp đỡ".

    "Paul sao ?".

    "Rõ ràng khi cậu ấy gọi điện cho ông lúc sớm và có người tự nhận là cảnh sát trả lời điện thoại thì Paul rất lo lắng. Người cảnh sát đó không nói chuyện gì đã xảy ra với ông. Paul hấp tấp đến nhà ông và nghe hàng xóm nói ông đã bị bắt, sau đó thì cậu ấy liên hệ với tôi. Chúng tôi là bạn bè từ rất lâu. Tôi hứa sẽ cố hết sức để giúp ông".

    Ồ Paul yêu quý của tôi... tôi yêu cậu ấy như đứa em trai của mình. Không, không phải thế. Hẳn là tôi đã mất trí khi tôi để cậu ấy vuột khỏi tầm tay. Nếu lần này thoát khỏi chuyện rắc rối này, tôi sẽ làm mọi chuyện để giữ cậu ấy lại. Nhưng hiện giờ Grant đang chờ.

    "Tôi chỉ muốn ông lôi tôi ra khỏi chuyện này", tôi nói sau khi đã giải thích mọi chuyện.

    "Thanh tra Rees có nói với tôi rằng chuyện xảy ra vượt xa sự mong đợi của ông ấy. Ông ấy nghĩ thực chất của vấn đề là có một áp lực thù nghịch với người đồng tính tấn công. Đã có nhiều chuyện tương tự như vậy xảy ra vì thế Rees và người của ông ta có phần "nhiệt tình" quá mức".

    "Nhiệt tình kiểu gì mà đá banh cửa trước căn hộ của tôi chứ !", tôi nói gay gắt.

    "Chuyện ấy chúng ta thu xếp sau cũng không muộn", Grant nói, "Thực ra người ta cũng sửa chữa tạm rồi. Bây giờ bàn sang chuyện khác".

    "Chuyện khác" ở đây tất nhiên là chuyện tôi bị bắt vì tội giết người.

    "Tôi không nghĩ họ có nhiều chứng cứ trong vụ án này đâu", Grant nói, "Ngay tại hiện trường cũng thế. Không có gì có thể cáo buộc anh có mặt tại địa điểm xảy ra vụ án. Có lẽ chúng ta phải tìm mấy tay chụp ảnh dạo trông thấy anh xuống xe điện ở công viên Belsize như lời anh nói, một người nữa từ hướng Hampstead đến để xóa tội cho anh. Nếu cố gắng một chút họ cũng có thể tìm ra những người mà anh gặp ngày hôm qua được. Bây giờ vấn đề còn lại là việc phủ nhận của ông Ponting, người đã yêu cầu anh tìm con".

    "Chúa ơi !", tôi vừa nói, vừa vỗ vỗ vào đầu mình vì trí nhớ tồi tệ của mình. "Tôi có chữ ký của ông ta. Ông ta đã ký hợp đồng tại văn phòng tôi".

    Đúng thế. Cũng trong ngày hôm đó, cảnh sát cử người tới văn phòng làm việc của tôi lấy bản hợp đồng. Vẫn chữ ký ấy. Nhưng không ai có thể nói chính xác đó có phải là chữ ký của ông Bernard Ponting hay không. Cũng có thể là của một ông Brian Peasbody, Barry Piss-elegant hay Harry Snogsworthy nào đó. Dù sao đi nữa, luật sư Grant đã bảo lãnh tôi tại ngoại (theo điều 473) mà tôi nghĩ đó là cách tốt nhất trong tình trạng hiện nay. Người ta chính thức thông báo cho tôi biết tôi phải trình diện tại sở cảnh sát vào tuần sau đúng vào ngày này, nếu không tôi sẽ bị bắt giữ và sẽ bị tước quyền được bảo lãnh. Thám tử Parry nhìn tôi, tôi vẫy tay chào ông ta - không thấy ông ta chào đáp, dù có lẽ trong thâm tâm ông cũng muốn như thế. Tôi đâu phải là trẻ con mà không biết ?

    Khi bước ra khỏi cơ quan cảnh sát, tôi ngữi thấy mùi cà ri của nhà hàng Balti bên dưới một chút. Bây giờ chúng tôi thân mật hơn, Tôi không coi ông ấy là luật sư Grant. Ông ta đưa tôi về nhà. Cửa cái đã được lắp lại và, dù nó khó có thể chịu được một cuộc tấn cống tương tự lần thứ hai, nhưng cũng có thể ngăn cản những vị khách không mời mà tới. Sau khi viên luật sư ra về, việc đầu tiên tôi làm là gọi điện cho Paul. Có vẻ chàng trai yên tâm khi nghe giọng nói của tôi, còn tôi thì chỉ muốn đến ngay với chàng trai.

    "Sao vừa rồi em lại gọi cho anh ?", tôi hỏi.

    "Em cũng không biết nữa. Suốt đêm em không ngủ được vì nghĩ về chuyện hai đứa mình. Em nghĩ chắc là mình muốn xem xét sự việc nghiêm túc, vì vậy em gọi điện cho anh trước giờ anh đi làm".

    "Em đã cứu anh", tôi nói có chút cường điệu. "Để đáp lại, anh có thể làm gì cho em bây giờ ?". Tôi vẫn chứng nào tật đó, tiếp tục cái lối nói tếu, nếu không như thế chắc tôi sẽ khóc òa ra mất.

    "Gặp em tối nay nhé", chàng trai đáp, "Lần này em không muốn nghe từ "không" ở anh đâu".

    "Ở chỗ em hay nhà anh ?", tôi hỏi, vì không có ý định nói từ "không".

    "Chỗ nào có bán thức ăn cuối tuần cũng được", chàng trai đáp, và tôi nhận ra đó không chỉ là một cuộc hẹn ăn tối.

    Coi như xong một việc, tôi tiếp tục hoạch định những việc còn lại phải làm trong ngày. Phải liên lạc với ông Pointing - cho dù cách tốt nhất vẫn là giáp mặt ông ta. Tôi nghĩ mình vẫn còn có cơ hội tìm được người đàn ông mặc áo khoác, và có lẽ tìm được cả hai tay bợm rượu cũng nên. Rõ ràng cảnh sát cũng không cố gắng hết sức trong việc tìm kiếm. Tôi gọi điện cho ông Ponting tại nhà riêng nhưng chỉ nhận được lời thoại trả lời tự động. Tôi không để lại tin nhắn, mà định bụng sẽ gọi lại sau.

    Tôi cạo râu, thay quần áo rồi ra ngoài. Ánh sáng mặt trời tháng sáu vẫn rực rỡ - thời tiết Wimbledon, dù không còn nóng bức như những ngày vừa qua. Tôi đánh xe chạy xuống Camden để ra công viên Belsize. Không thấy ai ngồi chờ ở trạm xe điện nên tôi chạy ngược lên đồi.

    Khi chạy qua quán Flask, tôi trông thấy hai gã đàn ông dựa vào tường, tay cầm vại bia - chính xác như tôi đã thấy ngày hôm qua. Tôi đậu xe trong một con đường nhỏ và đi bộ lại. Hai người này vẫn không nhận ra tôi cho tới khi tôi đến gần. "Ạ...a", người có màu da sậm nói, "Hôm qua anh có tới đây mà".

    "Tôi bắt gặp thằng bạn trai anh hít ma túy", giọng nói chẳng có chút thiện cảm.

    Tôi quyết định chơi khăm hai gã một chút, "Tôi là cảnh sát", tôi nói, "Rõ ràng các anh biết nhiều về chuyện này hơn chúng tôi".

    Hai người chưng hửng, nhưng không tỏ ra sợ hãi, họ chỉ thấy thái độ của mình trước đó không thích hợp. "Tôi không biết gì hết", một người nói.

    "Nhưng hôm qua các anh đã trông thấy nó ?"

    Hai người gật đầu..

    "Chắc là không có người đuổi theo thằng nhải đó chứ ?"

    "Ồ, lúc đó xung quanh đây cũng có vài người qua lại".

    "Không ai có vẻ gì khả nghi hay sao ?"

    "Không thấy ai theo nó vào quán của tụi pê đê".

    Tôi nhìn vào người nói nhiều nhất từ nãy đến giờ. Tôi đoán gã không phải là người xấu, chẳng qua muốn chứng tỏ mình là người bình thường hoặc là đàn ông đích thực.

    "Thằng nhải vào quán William đệ tứ phải không ?"

    "Đúng thế. Tôi và Jed ở đây đều cá nó là pê đê. Tôi nói nó chính là pê đê mà Jed lại không tin. Tới chừng nó vào cái quán đó thì tôi thắng cược. Jed phải thua một vại bia".

    "Và các anh không thấy ai theo nó vào quán sao ?", tôi hỏi gặng.

    "Không có".

    Jed nói, "Có một thằng cha mập mập".

    "Người đàn ông mặt đỏ phải không ?".

    "Vâng. Trước đây chưa từng thấy ông ta bao giờ".

    Tôi gặng lại, "Có đúng là mặt đỏ không ? Anh còn biết gì khác nữa không ?"

    "Lớn tuổi", gã bạn của Jed nói, "Tóc xám. Ăn mặc rất lịch sự".

    "Người này theo thằng nhải đó vào quán hay sao ?"

    "Ô không ! Chỉ thấy ông ta đi ngoài đường", Jed bật cười. Một trò đùa thấu cáy.

    Bực tức, tôi băng qua đường tới quán rượu tường xây gạch, kế bên một phòng trưng bày xe hơi. Quán có hai lối vào, một lối dẫn tới khu giải khát, còn một dẫn tới sàn nhảy, nhưng cả hai lối đều gặp nhau ở quầy bar phục vụ giữa quán, thành thử cũng không phải là sự phân chia khu vực rõ ràng một khi đã vào trong. Một cánh cửa bên trong dẫn ra "vườn", ở đây chỉ là khu vực vỉa hè với vài chiếc bàn gỗ nhỏ, vài chiếc ghế băng trông nhếch nhác. Có nhiều người trẻ tuổi và cả những người không còn trẻ trung ăn mặc "rất thoáng", người ta có cảm giác thấy cả "mùa hè đỏ lửa" qua y phục của họ.

    Tôi mua một cốc bia lớn, và ngồi ngoài cùng để nghe ngóng người ta nói chuyện. Không may là hầu hết đều nói về vụ án ở đường Heath. Người ta cảm thấy bị xúc phạm vì một chuyện như vậy lại xảy ra, hẳn có ai đó ngầm đe dọa họ. "Tôi sẽ không lên đó chơi nữa đâu !", một cặp tỏ vẻ lo lắng.

    Một nhóm bên tay phải bàn tán về một người tên Geoffrey.

    "Thằng bồ ngủm củ tỏi, nó buồn kinh khủng luôn, trông thật tội nghiệp", một người nói.

    "Mày có gặp nó không ?"

    "Bây giờ nó thế nào rồi ?"

    "Ngoài vườn kia kìa", một người đáp, một loạt mấy cái cổ nghễnh về phía cánh cửa dẫn ra "vườn", mặc dù chẳng ai muốn ra đó làm gì, điều đó khiến tôi hài lòng.

    Tôi bước ra ngoài.

    Có một nhóm thanh niên da trắng ngồi quanh một chiếc bàn trông có vẻ tương đắc, vui vẻ, không ai trong số họ tỏ ra có chút gì lo sợ. Ở một bàn khác, có một thanh niên da đen lẻ loi đang đăm đăm nhìn chiếc ly pha lê đựng một thứ chất lỏng bên trong, có lẻ là rượu gin, vodka hay nước lọc cũng nên. Tóc chàng trai sát da đầu, không phải cạo, nhưng rất ngắn, nước da màu sô cô la xậm. Chưa vội kết luận điều gì, tôi bước đến và nói, "Geoffrey phải không ?".

    Chàng trai ngẫng đầu lên nhìn, rõ ràng chàng trai tỏ ra ngạc nhiên về một người chưa từng quen biết. Tôi tự hỏi không biết có nên giở cái chiêu cũ rích "Chắc chắn anh phải nhớ tôi chứ, tôi gặp anh ở buổi tiệc của....", nhưng rồi tôi quyết định nói hết sự thật.

    "Tôi là Matt", tôi nói, "Matt Silvain. Tôi là thám tử tư, đang điều tra vụ sát hại Adrian Ponting".

    Ôi, trước đó anh chàng đã tỏ ra khá đau khổ nhưng sau khi nghe tôi nói xong, chàng trai càng đau khổ gấp bội. Cặp mắt nâu to tròn long lanh, dòng nước mắt chảy xuống má.

    Tôi ngồi xuống bên cạnh chàng trai, trên cùng chiếc ghế dài, theo bản năng tôi đặt tay lên mu bàn tay chàng trai lúc ấy đang để trên bàn. "Cũng khá khó khăn", tôi nói, "nhưng chắc anh cũng muốn tóm cổ thằng khốn đó, phải không ?"

  3. #3
    Guest

    Mặc định Re: Hè về

    Phần 3

    "Nếu tôi có mặt ở đây thì chuyện ấy đâu thể xảy ra được", người thanh niên da đen nói.

    "Anh nói vậy là sao ?"

    "Chúng tôi có hẹn gặp nhau", chàng trai nói, "Ở đây. Nhưng tôi đến trễ. Adrian hẳn là có đến đây, nhưng không tìm thấy tôi nên bỏ đi".

    "Cậu ấy không đợi được sao ?"

    "Có lẽ cậu ấy chẳng còn tiền để mua nước giải khát. Chắc vì vậy nên không muốn ngồi đợi".

    "Tại sao cậu ấy lên đường Heath ?", tôi hỏi.

    Geoffrey nhún vai, "Đó là chỗ tháng trước chúng tôi quen nhau", chàng trai nói tiếp, "Có lẽ cậu ấy nghĩ rằng tôi lên đợi ở chỗ đó. Cậu ấy chẳng còn biết nương tựa vào ai."

    "Anh muốn nói cha cậu ấy ?"

    Geoffrey gật đầu "Khi biết Adrian là gay, ông ta ghét lắm - và nếu như ông ta biết được tôi là người da đen thì không biết ông ta sẽ điên lên như thế nào. Ông ta căm thù người da đen chúng tôi còn hơn cả người đồng tính".

    Có lẽ người thanh niên đã nhận xét đúng. Tôi càng biết nhiều điều về ông bố Ponting, thì tôi càng không ưa ông ta. Tôi chợt nghĩ tới chuyện mô tả "ông già" mặc quần áo đắt tiền mà người bạn của Jed đã nói. Dù không đầy đủ, nhưng lại phù hợp với những điều mà tôi biết về Ponting từ lần ông ta đến văn phòng của tôi. Chỉ có một chuyện mà tôi chưa hỏi, đó là người đàn ông ấy có đi khập khiểng hay không.

    Tôi không có gì nhiều để nói với Geoffrey ngoại trừ "Hãy trong quán và vui vẻ lên, mọi việc sẽ ổn thôi anh bạn". Nếu muốn kiếm bạn tình, anh chàng có thể vào trong quán. Mặc dù tới lúc này trông anh chàng cần được yên tĩnh hơn lúc nào hết.

    Tôi không nhận ra mình đã nhầm lẫn biết chừng nào. Lúc ấy tay tôi vẫn nằm trên bàn tay chàng trai, mà tôi cũng cảm thấy dễ chịu, gần gũi, tất nhiên là thuần khiết. Bỗng nhiên chàng trai trở bàn tay để áp lòng bàn tay vào tay tôi. Da thịt chàng trai ấm áp và hơi ẩm. Rồi sau đó, tôi chưa kịp phản ứng, thì chàng trai da đen kéo tay tôi đặt lên háng mình. Trời đất ơi ! Bự bằng trái chuối già. Tôi có thể cảm nhận bề tròn của nó qua lớp vải quần mỏng, nhưng khó nói được chính xác chiều dài con cặc chàng trai.

    Tôi hơi thất vọng. Đây là chàng trai, mới vừa rồi, chưa đầy một phút, còn sướt mướt vì mất người yêu và bây giờ lại nứng cặc vì một kẻ xa lạ mới gặp lần đầu. Nhưng chuyện ấy chẳng ảnh hưởng gì đến hòa bình thế giới. Tôi không muốn chàng trai nghĩ rằng tôi từ chối nên cứ để bàn tay tha hồ nổi loạn. Wow ! Wow ! và Chúa ơi !

    "Đáng tiếc là tôi có một cuộc hẹn", tôi nói, "nếu không thì tôi cũng rất thích...".

    Tôi nhìn chàng trai, đôi mắt tròn lay láy ướt át, bờ môi dày hé mở chờ đợi, mời đón trông rạo rực xuân tình. Tôi tần ngần còn chưa biết phải làm gì. Tại sao mình không thể bỏ ra thời gian còn lại trong ngày, cả buổi tối hoặc suốt đêm ngủ với chàng trai này trong khi tôi cũng đang rạo rực ? Có lẽ vì Paul cũng nên. Tôi đành rút lui ý định của mình.

    "Anh rất tử tế, anh bạn", chàng trai da đen nói.

    "Tôi sẽ cố hết sức để tóm cổ hung thủ", tôi cam đoan với chàng trai và ra về, cố không để mọi người chú ý thấy mình trong quán rượu này.

    Jed và người bạn của gã đã biến mất, vì vậy tôi ra xe. Ngồi trong xe, tôi cố gọi lại cho Ponting bằng điện thoại di động, lần này có tiếng một phụ nữ trả lời. Người đàn bà có giọng nói mềm mỏng, ngọt ngào, nhưng.... Tôi đoán là bà ta đang khóc. "Tôi là Matt Silvain", tôi nói, "Tôi muốn nói chuyện với ông Ponting".

    "Chắc nhà tôi vẫn còn tại chỗ làm", người đàn bà đáp. Lúc này mà còn tâm trí làm việc được ư ? Chỉ ngay sau ngày đứa con trai bị sát hại ?

    "Thực sự tôi rất cần gặp ông ấy", tôi nói.

    "Có lẽ chút nữa nhà tôi sẽ về. Khoảng sáu giờ".

    Tôi tắt máy. Tôi có hai giờ rảnh rang. Đột nhiên tôi lại nghĩ tới Geoffrey. Tôi tranh luận với chính bản thân mình. Mình có nên lợi dụng lúc người ta đang đau khổ và cô đơn hay không ? Nhưng biết đâu anh chàng đâu cần tình yêu hay những thứ xa xỉ như thế ? OK, đành phải chấp nhận thôi. Tôi là một thằng dâm dãng. Dù thế nào đi nữa cũng không bỏ qua cơ hội hiếm có này được. Con cặc tôi đã đòi hỏi hay ít ra con cặc chàng trai cũng muốn thế ! Cuối cùng tôi quyết định không quay lại quán rượu William đệ tứ. Tôi lái xe thả dốc xuống chân đồi để tìm xem có thể gặp lại người đàn ông mặc áo choàng xám hay không, ít ra chứng cứ ngoại phạm cũng có sức thuyết phục hơn.

    Khi lái xe chạy qua chỗ ngồi hôm trước, tôi không thấy bóng dáng người đàn ông ở đó nhưng tôi vẫn chạy tới góc đường phía trước đậu xe và đi bộ ngược lại. Một bà cụ, chắc là người địa phương, đang dắt chó đi lại trên lề đường, con chó sủa ăng ẳng khi tôi đến gần.

    "Đừng dấm dẳng với ông đây như thế, Dolly", bà cụ nói khi tôi tới bên cạnh.

    "Cô nàng không thích người lạ sao, thưa bà ?", tôi vui vẻ hỏi.

    "Không, ngay cả tôi cũng không thích", người phụ nữ nói, "Ông không hiểu đâu, suốt ngày phải giữ nó thật là phiền"

    "Nhưng có nó bầu bạn cũng vui, tôi nghĩ như vậy".

    "Hả ?", người đàn bà hỏi. Con chó sủa thêm hai tiếng và nhìn vào mắc cá chân tôi.

    "Không biết bà có biết người đàn ông hay ngồi trên chiếc ghế này không", tôi hỏi, "Ông ấy đi xăng-đan, hay mặc áo choàng xám".

    "Đó là Fred Warren", bà ta đáp, "Ồ, ai ai cũng biết Fred Warren".

    "Hôm nay ông ấy không ra đây sao ?"

    "Không thấy", người đàn bà đáp, "Đi nào, Dolly". Bà ta lôi con chó Dolly, trong khi nó cố giằng lại để nhích tới gần chân tôi. "Tránh xa chân người ta ra", bà quay sang tôi giải thích, "nó hay táp vào mắt cá nhân người khác". Bà mỉm cười hài lòng, khoe hàm răng giả trắng hếu.

    "Không biết tôi phải tìm ông ấy ở đâu đây ?"

    "Ai chứ ? Ông Fred Warren à ? Ai cũng biết chỗ ở của Fred Warren".

    Ai cũng biết trừ tôi ra, dĩ nhiên là như thế. "Chỗ đó ở đâu, thưa bà ?"

    "Đằng kia kìa", bà ta chỉ một căn nhà trên đường, kế bên lối vào trạm xe điện ngầm. Đó là một căn nhà có 3 tầng kiểu dáng thanh lịch dù đã xuống cấp một chút, lớp sơn cửa sổ bong tróc loang lổ. "Ở căn hộ à ?", tôi hỏi.

    Dolly thừa lúc đang nói chuyện đến gần táp vào mắt cá chân tôi. May thay, vừa kịp lúc tôi tránh được. Còn người đàn bà có dịp trò chuyện trông tươi tỉnh hẳn. Tôi mừng vì đã khiến cho bà vui vẻ.

    "Ở căn hộ ư ?", bà ta nhe răng cười, đáp. "Không, cưng ạ, nhà ông ta đấy. Ông ấy giàu có như Creosote, nhưng hà tiện lắm, một xu cũng không lỏi. Ông Fred Warren này có nhiều chuyện vui lắm". Người đàn bà dẫn con chó đi, tôi nghe tiếng cười giòn giã của bà ta cho tới khi khuất khỏi góc đường.

    Tôi ngồi trên ghế dài ngó qua căn nhà. Ngay cả khi ngồi ở đây, tôi cũng có thể thấy cửa sổ nhà ấy dơ bẩn thế nào, còn rèm che thì lôi thôi nhếch nhác. Không biết ông ta có thuộc loại người keo kiệt hay không nữa ? Tiền của đáng giá bạc triệu, nhưng không chịu bỏ tiền ra cho những việc cần thiết. Tôi tự hỏi không hiểu hôm nay ông ta ở đâu. Có thể ông ta còn vui thú đam mê đằng sau cánh cửa đóng kín kia cũng nên, còn cửa sổ chỉ mở khi cần thiết đón không khí trong lành mà thôi.

    Tôi đứng dậy băng qua đường, đi lên bậc tam cấp và bấm chuông. Tiếng chuông nghe vang vọng khắp tòa nhà. Tôi đợi và định bấm chuông lần nữa, nhưng có cảm giác không có người ở nhà nên lại thôi. Có lẽ để khi khác vậy.

    Tôi hơi thất vọng. Thực tình bây giờ tôi không biết phải đi đâu. Tất cả những thứ tôi có trong tay chỉ là lời của hai thằng cha thô lổ ngoài quán rượu. Tôi hy vọng người đàn ông mặc áo choàng xám này sẽ cung cấp cho tôi ít nhiều thông tin cần thiết, để xác định xem cái gã mặt đỏ, tóc xám có ra khỏi trạm xe điện bám theo Adrian lên đồi hay không. Sau đó có giết cậu ấy không ? Bởi vì cậu ấy là người đồng tính và có một người bạn trai là người da đen cũng là người đồng tính nốt ? Giả thuyết ấy có đáng tin cậy không ?

    Tôi phải gặp ông Ponting. Tôi xem đồng hồ. Bốn giờ ba mươi. Hãy còn một tiếng ba mươi phút, tôi cần trở lại nhà ông Ponting, biết đâu lời bà vợ ông ấy là lời nói dối. Họ sống ở Maida Vale, một địa chỉ dễ nhớ. Từ đây đến đó cũng mất khoảng một tiếng rưỡi.

    Căn nhà trông ấn tượng và sang trọng, mặt tiền kiến trúc thời Nhiếp chính sơn trắng, hàng rào chấn song sơn đen có hoa văn, ngăn cản không cho người ngoài xâm nhập vào. Tôi ngắm nhìn giống như một đứa trẻ tò mò. Một nhà để xe đáng để một chiếc xe sang trọng, hợp thời. Bên ngoài một dãy chậu trồng phong lữ, và một chiếc du lịch nhỏ đậu trên bãi sỏi. Không có chiếc BMW hay Mercedes nào, vì thế tôi cho rằng chủ nhân chưa về nhà. Cửa cổng là một cấu trúc kim loại với nhiều hoa văn được chế tác tinh xảo. Chúng được tra dầu nên khi mở êm ru. Cửa chính vào nhà sơn màu xanh lá nền nã.

    Một cô gái, có lẽ là người Phi-lip-pin ra mở cửa. "Tên tôi là Matt Silvain", tôi nói, "Tôi có chuyện cần trao đổi với bà Ponting".

    "Ông có hẹn trước không ?", cô gái hỏi. Tôi thoát khỏi tình trạng lúng túng khi người đàn bà xuất hiện, cao ráo, thanh nhã và xinh đẹp. Lời thơ lại vang lên trong tâm trí tôi :

    ........................................ ........
    Mẹ càng duyên dáng cơ hồ trẻ ra
    Nín đi con chớ khóc la...

    Nhưng anh chàng Adrian đáng thương có đủ mọi lý do để khóc thầm - và bây giờ cậu ấy đã chết.

    "Được rồi, Angelina", thiếu phụ nói với cô gái vẫn còn rề rà trước nhà. "Ông gặp chồng tôi có việc gì ?"

    "Xin lỗi vì đã đến quấy rầy bà vào lúc đau buồn như thế này", tôi nói, cố đeo cái mặt nạ chân thành, lịch thiệp và cẩn trọng - chuyện này đối với tôi cũng không khó lắm. Tôi cho rằng tin về cái chết đứa con trai hẳn đã khiến bà đau lòng nhiều hơn đức ông chồng.

    Người đàn bà nhường lối cho tôi vào. "Chỉ là việc ông Ponting có thuê tôi tìm hộ đứa con trai cho ông".

    "Và bây giờ ông đến đây để đòi tiền vì đã "tìm được" chứ gì ?", ánh mắt người đàn bà lóe lên tia giận dữ.

    "Không, hoàn toàn không phải thế. Sau khi cân nhắc mọi chuyện xảy ra, tôi hoàn toàn không muốn nhận thù lao thanh toán. Tôi đến đây chỉ vì việc ông ấy gây cho tôi khá nhiều rắc rối ở sở cảnh sát, bằng việc phủ nhận việc thuê mướn tôi tìm con. Tôi chỉ muốn biết rõ mọi chuyện trước khi người ta bắt nhốt tôi lại".

    "Chuyện xảy ra ảnh hưởng đến ông ấy rất nhiều", người đàn bà nói, "Ông ấy và Adrian rất thân thiết".

    Vậy sao, tôi bất nhẫn nghĩ thầm. "Nhưng hôm nay ông ấy vẫn đi làm, bà thấy rồi đấy", tôi lạnh lùng nói, không đếm xỉa vẻ mỉa mai cay độc trong giọng nói của mình.

    "Không may là chuyện xấu xảy ra. Dĩ nhiên hôm qua ông ấy không còn biết gì nữa sau khi nhận được tin báo. Tôi cũng có biết chuyện ông ấy nói về ông với cảnh sát. Tôi nghĩ đó chỉ là ông ấy nhất thời bị sốc. Ông ấy không muốn chuyện Adrian là người đồng tính bị lan truyền ra ngoài, mặc dầu theo tôi nghĩ đó là điều không thể tránh được, vì vậy ông ấy nghĩ gì nói nấy mà không cân nhắc. Đó là chuyện ngu ngốc và tôi tin rằng ông ấy sẽ đính chính lại trước cơ quan điều tra, tôi cam đoan như thế".

    "Ông bà biết Adrian là gay sao ?", tôi hỏi.

    "Ồ, có biết", bà ta đáp, "Tôi biết chuyện đó đã nhiều năm rồi. Tôi cho rằng ông ấy cũng biết, mặc dù ông ấy cố không tin. Tôi cũng biết bạn trai của nó. Adrian đã kể cho tôi nghe. Trông nó lúc ấy rất hạnh phúc". Đôi mắt người đàn bà rơm rớm nước mắt. Tôi không hiểu bà ta sẽ nghĩ gì nếu như tình cờ bà chứng kiến cảnh tôi và Geoffrey "vuốt ve" nhau trong quán William đệ tứ hôm trước.

    Nhưng rồi người đàn bà bình tĩnh trở lại. "Hôm qua mọi việc diễn ra khá tốt. Tôi sắp thuyết phục Harry chấp nhận "vấn đề" của Adrian. Chúng tôi đi Colchester để gặp mấy người bà con và trên đường về, lúc ở trên xe chúng tôi bàn với nhau về chuyện ấy - một cách bình tĩnh - và sau đó, khi về đến nhà thì thấy cảnh sát đã có mặt ở đó với tin tức như thế".

    Tôi chết lặng. Cái giả thuyết của tôi hoàn toàn sụp đổ. Không nghi ngờ gì nữa, các thám tử cảnh sát có thể kiểm tra chứng cứ ngoại phạm của ông ta thông qua họ hàng.... Tôi không còn biết phải nói gì. Chửi đổng lên có lẽ là cách thích hợp để bày tỏ cảm xúc của tôi trong lúc này. Nhưng tôi không làm thế.

    "Rất tiếc vì đã làm phiền bà", tôi vừa nói, vừa quay ra. Người đàn cả đứng ở cửa nhìn theo cho tới khi tôi ra tới vỉa hè ngoài đường. Sau đó bà ta đóng cửa. Sớm muộn gì ông chồng cũng từ sở làm quay về, lúc ấy họ có thể chia sẻ nỗi buồn cho nhau.

    Nhưng tôi còn có những dự tính khác. Hầu hết đều tập trung vào việc chuẩn bị cho kỳ nghỉ cuối tuần với Paul - vì vậy phải về nhà chuẩn bị, sau đó thì sang nhà cậu ấy. Paul nấu ăn và chúng tôi cùng ăn với nhau.

    Sau đó, tôi theo Paul vào bếp nơi chàng trai mang bát đĩa bẩn bỏ vào chậu. Tim tôi đập nhanh. Sao lạ thế này ? Phải chăng đây là sự khởi đầu của một kỳ nghỉ cuối tuần tuyệt vời bên nhau ? Tôi không phải là người thường có biểu hiện tình cảm quá mức, nhưng tôi đã hứa với chính mình sẽ làm bất cứ điều gì cho Paul nếu chàng trai giúp tôi thoát khỏi nhà tù. Paul đã làm được và đây không chỉ là sự biết ơn mà tôi cảm nhận được. Paul quay lại, đôi mắt nâu nhìn tôi như đang ra lệnh hơn là mời mọc trong khi chàng trai đến gần ôm tôi, những cảm giác cũ trước đây lại quay về.

    Nụ hôn chàng trai lúc đầu dịu dàng, ngọt ngào, càng về sau càng mãnh liệt, thúc giục. Chàng trai thì thầm gì đó bên tai mà tôi không hiểu được, vì trong lúc ấy tôi chỉ tập trung vào mỗi một việc là cởi bỏ quần áo chàng trai, trong khi chàng trai cũng làm thế với tôi. Paul không vội vã, đó là điều tôi rất thích - giống như một sự mớn trớn nhẹ nhàng, chậm rãi, giống như khi chúng tôi lần đầu ân ái. Nhớ những lần trước đó, anh chàng không chờ được lâu. Dù vậy lần này có khác. Phải mất một thời gian khá lâu để cởi cúc áo cho tôi và rà lưỡi quanh đầu vú của tôi. Tôi cảm nhận răng chàng trai nhăn nhẹ, cả người tôi nổi gai ốc. Chàng trai thốt ra những âm thanh ư ử khi bắt đầu mở khóa thắt lưng, sau đó là dây kéo, mắt mơ màng nhìn tôi. Tôi thừa hiểu cái nhìn ấy, nên với tay sờ vào háng chàng trai, nơi có cột cờ sừng sững đang đón chào tôi, dài và cứng ngắc. Không cần nói, con cặc tôi lúc ấy cũng ở trong tình trạng tương tự, ngỗng lên và cái đầu dãn dài ra gần sát mép quần. Tôi tin rằng lúc ấy đã nhểu ướt quần lót trong khi chàng trai cuối cùng cũng cởi được quần dài bên ngoài, quỳ xuống và nhăn nhăn bên ngoài lớp vải quần lót dọc theo thân cặc càng làm ướt thêm, cái đường hằn theo thân cặc lộ rõ ra bên ngoài lớp vải. Tôi ngã đầu ra sau và đột nhiên nhận ra mình còn đang ở trong nhà bếp, giữa chiếc bàn ăn bừa bộn và đống chén bán bẩn chưa rửa. Mặc dù không muốn mất hứng, nhưng tôi vẫn cần có chiếc giường êm để chàng trai nằm xuống và làm được nhiều việc mà tôi từng mơ đến khi đặt chân vào căn hộ của Paul.

    Tôi bế xốc chàng trai đi về phòng ngủ, quần áo chúng tôi rơi vải trên sàn nhà. Paul nằm bên cạnh tôi, cái cảm giác trống vắng của kẻ "phòng không" biến mất, thay vào đó là tình cảm dạt dào, đầm ấm. Tôi chật vật mới cởi bỏ hết quần áo của chàng trai, chỉ còn chiếc quần lót lại trên người giống như tôi. Nếu tôi từng nghĩ sẽ tìm thấy những thứ này ở những gã đàn ông khác thì hẳn là tôi đã nhầm lẫn. Có rất nhiều "hàng độc" cho tôi lựa chọn, nhưng chỉ một Paul Massingham là dành riêng cho tôi. Tôi ngắm nhìn thân thể chàng trai, rồi ép cặc vào nhau, để nghe cậu ấy rên lên vì sướng, đôi tay và lưỡi Paul làm tôi quíu cứng cả người. Một lần nữa tôi tự nhủ phải cho chàng trai tất cả những gì mình có được. Đôi tay ấy luồn trong quần lóp bóp nắn cặp mông tôi rồi lách vào khe hẹp, Cặp môi chàng trai cuồng nhiệt đến nỗi tôi không còn thở được. Tôi rời chàng trai để thở, rồi lăn sang một bên bắt đầu liếm láp thân thể chàng trai; mùi thịt da chàng trai thơm và dễ chịu, mùi hương xà phòng tôi quen dùng.

    Khi lưỡi tôi lần xuống đến rốn, chàng trai vặn vẹo mình cười khúc khích vì nhột, Paul ấn đầu tôi tụt xuống phía dưới sâu hơn. Theo đà, lưỡi tôi kéo dài theo thân cặc Paul và dừng lại liếm ở đầu khấc rỉ rả giọt sương. Khi đã vét sạch, tôi ngoạm đầu khấc vào miệng và cặp môi miết chặt chạy tới, xuôi theo chiều dài thân cặc cho đến khi chạm tới gốc cặc phủ đầy lông. Nói thì có vẻ dông dài, nhưng việc làm chỉ trong tích tắc, chàng trai rên lớn, đôi tay chàng trai hoảng loạn mò mẫm tìm cặc của tôi, tôi trở người để cặc mình ngay trước mặc chàng trai. Sau đó, tôi cảm nhận cái miệng nóng hổi đang nuốt dần từng phân chiều dài con cặc tôi vào miệng. Cái tư thế 69 đã giúp chúng tôi lấp lổ cho nhau trọn vẹn. Mũi tôi thở mạnh, miệng vừa bú cặc Paul vừa rên ư ử như chú mèo làm nũng, chân Paul dang rộng để tôi mặc tình "xử trí tình huống" đến tận khu vực đại bản doanh bên dưới hai ụ pháo. Chàng trai quíu lên, cứ nhìn sự chuyển động của các bắp cơ sau mông, hai bên đùi và cái bụng thóp vào dãn ra cũng đủ biết chàng trai sướng như lên mây, riêng tôi cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Ngón tay chàng trai thụt vào rút ra bên dưới lổ đít làm tôi sướng run, sướng phát điên lên được. Được một lúc, chàng trai chủ động lấy bao cao su trùm lên đầu cặc và vuốt dọc theo con cặc của tôi, dù lớp nhựa mỏng bao bọc bên ngoài nhưng tôi vẫn phải rùng mình vì động tác vuột ngược ra gốc cặc ấy. Chàng trai nằm ngữa ra giuờng và kéo tôi chồm lên người.

    Chỉ nghe đầu cặc chui vào đường hầm mới được một đoạn là tôi muốn la làng. "Đừng để em đợi nữa", chàng trai nói, mặt ửng đỏ vì khao khát. "Em cần anh". Tôi cũng cần chàng trai. Cái cảm giác ấy khiến tôi ngây ngất... Mũi tiến công thọc sâu đã bẻ gãy hàng phòng ngự nơi tiền đồn của đối phương. Gương mặt Paul không có biểu hiện gì khó chịu, vì thế tôi dấn sâu từng chút một, một tay tôi chống lên giường chịu sức nặng cơ thể mình, còn tay kia cầm cặc, giống như vị tướng đang điều động binh mã tiến công. Cái cảm giác hân hoan náo nức khi chiếm lĩnh trận địa cũng đến với tôi lúc này, khi mà các cánh quân đã tiến sâu và chiếm giữ thành trì sâu bên trong lãnh thổ đối phương, cảm giác chinh phục như bổ sung vào nguồn hưng phấn ân ái khiến tôi tê rần khắp người.

    Đôi tay chàng trai với ra sau bóp mông tôi và ghì chặt để tôi đâm cặc sâu hơn, để có thể lắc lư trên mông, để có thể nghe cơ bắp, thịt da đụng chạm và vỗ vào nhau lạch bạch, để vòng cơ thít chặt. Tôi cúi xuống hôn chàng trai trong khi vẫn nhấp nhữ cặp mông đều đặn bên dưới giống như trò mèo vờn chuột, hết bắt lại thả, hết đút vào rồi lại rút ra. Paul rên thành tiếng khi tôi vừa gia tăng nhịp đụ, vừa xóc xóc con cặc chàng trai. Khi thấy vùng cổ và vai mỏi mê, tôi hôn chàng trai và sổng lưng mà đụ tới tấp.

    Cặp mắt khép hờ, đôi môi cong rên xiết, gương mặt nhăn nhó vì "nỗi đau" tự nguyện, cuối cùng chàng trai cũng phải thốt lên "nữa, nữa đi anh", và "nhanh lên, đụ mạnh lên anh ơi". Tôi chỉ việc thỏa mãn những ước muốn của chàng trai. Chúng tôi ngụp lặn trong sự kết hợp hoàn hảo, chàng trai dạng chân, hẩy mông đón nhận trong khi tôi hùng hục đẩy vào, vòng cơ tiếp tục xiết quanh thân cặc, tinh dịch bên trong bìu dái tôi sôi lên sùng sục, còn bên ngoài, khắp người mồ hôi nhỏ giọt. Tôi không thể nhớ chính xác sự việc vài giây sau đó, mà chẳng còn sức để mà nhớ trong khi tâm hồn đã bay bổng, toàn thân đê mê... Nhưng tôi vẫn nhận thức rõ mình đang trút sạch vào người Paul. Con cặc chàng trai nở ra, cái đầu cặc bóng nhẩy căng như da quả bóng và "bùm", quả bóng nổ, tinh dịch chàng trai bắn phọt trên không trung, văng trúng ngực tôi, lại rơi xuống người chàng trai ở mặt, ở cằm, ngực và tràn trề trên đám lông háng. Paul lẩm bẩm "Chúa ơi, không ngờ anh chơi cừ như thế". Tôi coi đó như một lời tán dương. "Đừng đi, anh", Paul nhìn tôi đắm đuối và nói. Tôi cúi xuống hôn chàng trai và rũ xuống vì mệt lữ và hạnh phúc tràn đầy.

    Tôi hơi ngạc nhiên vì không thấy xìu lại như mọi lần, hẳn là chàng trai khiến tôi nứng... Chỉ có nguyên nhân ấy mà thôi... chúng tôi nhìn nhau cười, lớp cơ bên dưới đít chàng trai tiếp tục co thắt, tôi không có sự lựa chọn nào khác. Paul cười khúc khích như trẻ con, chàng trai khóa chân sau lưng tôi và tôi không thể thoát khỏi bẩy tình. Tôi lại trượt vào đường hầm trơn trợt, ẩm ướt, một lần nữa con cặc tôi lại cương lên cứng ngắc. Không biết anh chàng này muốn làm gì tôi đây ?....

    Hôm sau, chúng tôi cùng lái xe ra công viên Belsize. Đi đâu có đôi cũng thú. Dù Paul không nói gì, nhưng tôi cũng đoán được ý nghĩ chàng trai như vậy. Tôi tự hỏi nếu là "partner" không biết sẽ như thế nào nhỉ - ý tôi nói là "partner" trong công việc. Sẽ có đủ thời gian mà ngắm nhau không chán mắt. Tuy nhiên thực tế không dễ dàng như vậy, công việc tôi làm không đủ khả năng trả lương cho hai người - mà đôi khi cũng chẳng đủ trả lương cho một người, nghĩ tới đây tôi chợt nhớ tới lời mình nói với bà Ponting rằng tôi không nhận thù lao. Trời ơi, sao mà ngu ngốc thế, ngu hết chỗ nói.

    Tôi đâm ra nổi cáu với chính bản thân. Dường như hiểu được điều gì diễn ra trong đầu tôi, chàng trai nắm tay tôi bóp nhẹ như an ủi vỗ về. Tôi thích cảm giác ấy, vì biết rằng hiện giờ chàng trai đang ngồi bên cạnh mình.

    Chúng tôi chạy qua Camden, Chalk Farm và ngược lên đồi Haverstock. Người ta đổ đầy ra đường đi mua sắm cuối tuần. Khi chúng tôi rẽ vào góc đường thì công viên Belsize hiện ra trong tầm mắt, hình như có điều gì đó không ổn. Tôi có cảm giác thật tồi tệ. Có hai xe cảnh sát và một chiếc xe cứu thương đậu bên ngoài tòa nhà của Warren.

    "Lại chuyện gì nữa đây ?", tôi lẩm bẩm.

    "Mình về nghen anh ?", Paul hỏi, "Chỉ chạy qua rồi về nhà luôn".

    Nhưng tôi không thể. Tôi đoán đó là lý do mà tôi là một thám tử tư như tôi phải nhúng mũi vào mọi chuyện. Tôi tìm chỗ đậu xe và đi bộ trở lại. Một đám đông bu quanh vỉa hè phía trước cửa vào ngôi nhà. Một cảnh sát viên mặc cảnh phục đang đứng ở đó. Người này không giống người đã đến hiện trường ở đường Heath nhưng tôi vẫn nghĩ là một người. Khi chúng tôi đến nơi, lúc ấy có một người đàn ông từ trong nhà đi ra. Thám tử cảnh sát Parry. Chúng tôi nhìn nhau và nhận ra nhau ngay.

    "Ông làm quái gì ở đây ?", viên thám tử hỏi.

    "Tôi tới hỏi chuyện Fred Warren".

    Viên thám tử thở dài, "Làm sao ông biết vậy ? Mà thôi, tốt nhất vào trong này mà nói chuyện".

    Viên thám tử trở bước vào trong, tôi và Paul theo sau. Đám đông trông theo với vẻ tò mò. Tôi còn trông thấy cả bà cụ già với con chó hay cắn bậy, nên đưa tay vẫy chào. Thế là bà cụ trở thành trung tâm của mọi sự chú ý.

    Bên trong sảnh, âm u, trần nhà cao với lớp giấy dán tường cũ lỗi thời, Parry quay sang nhìn Paul, "Ai đây ?" viên thám tử hỏi.

    "Paul Massingham", tôi đáp "Partner của tôi". (ND : partner cũng có thể hiểu là tình nhân hoặc là người cộng tác chung, hoặc đồng sự... tùy theo ngữ cảnh).

    Tôi có thể thấy cặp mắt biểu cảm của viên thám tử, ông ta tự hỏi không hiểu tôi dùng từ này với ý nghĩa nào. Còn tôi thấy Paul lộ vẻ bối rối.

    "Thôi được", Parry nói, "bây giờ cho tôi biết quý vị muốn gặp Warren về chuyện gì".

    "Ông ấy chính là người hôm qua tôi đã kể cho các ông. Là người mặc áo choàng xám nói với tôi rằng có thấy Adrian trên đường tới Heath. Chính là người mà các ông không tìm ra chứ còn ai".

    "Nhưng sao sáng qua ông không chịu nói tên ông ấy", Parry tỏ ra nghi ngờ.

    "Nhưng mãi đến chiều qua tôi mới biết tên ông ta", tôi đáp, "tôi đi quanh đấy hỏi thăm và gặp bà già dắt theo con chó, bà ấy nói cho tôi biết. Cứ việc hỏi bà ấy nếu anh không tin tôi, nhưng nhớ coi chừng mắt cá của anh đó".

    Parry lầm bầm.

    "Có chuyện gì xảy ra với Warren vậy ?", tôi hỏi.

    "Bà hàng xóm lo lắng vì hai ngày nay không thấy ông ta xuất hiện. Bà ta báo cảnh sát và khi chúng tôi đập cửa xông vào thì đã thấy ông ta treo cổ lòng thòng dưới sợi dây. Có lẽ đây là vụ tự sát. Có một tờ giấy để lại nhưng nội dung xem ra chẳng có gì rõ ràng lắm".

    " 'Trùm sò đấy", tôi nói, " lúc đầu tôi cứ tưởng ông ấy là dân bụi đời, ai dè lại là triệu phú. Lá thư nói gì vậy ?"

    "Tôi không thể nói ra được", Parry làm ra vẻ quan trọng.

    "Biết đâu tôi có thể giúp được cho ông".

    Parry nhìn tôi một lúc như để cân nhắc lời nói của tôi. "Được rồi", ông trao cho tôi một mảnh giấy để trong bao nhựa đựng vật chứng. Trong mảnh giấy viết :

    "Tôi không cố ý làm như vậy. Đó chỉ là tai nạn. Cậu ấy tưởng tôi theo dõi cậu ấy nên chộp tay tôi giữ lại. Mọi việc tôi làm là đẩy cậu ấy ra, cậu ấy mất đà và ngã xuống. Khi không thấy cậu ấy ngồi dậy, tôi quay sang nhìn và thấy..."

    "Khó có thể nói ông ấy tự sát vì chưa có gì rõ ràng hết".

    Tim tôi đập mạnh. Tôi nghĩ mình có một lời giải thích thỏa đáng. Tôi nhớ thái độ Warren suýt nhảy dựng lên khi tôi đưa cho ông ta xem tấm hình của Adrian. Tôi có thể thấy bùn đất nơi mắt cá chân ông ta, dấu vết trầy xước bởi vướng bụi cây mâm xôi. Phủ nhận việc tìm trai. Ông ta có quá cẩn thận không ? Nói cho cùng đó là một tai nạn bất ngờ, nhưng muốn hay không, Warren cũng có trách nhiệm trong cái chết của Adrian. Và không thể tiếp tục cuộc sống với mặc cảm đầy tội lỗi, với sự dày vò của lương tâm.

    "Ôi Chúa ơi", tôi thảng thốt kêu lên khi đã có một lý giải trong đầu.

    HẾT
    __________________

  4. #4
    Tham gia ngày
    Feb 2009
    Bài gửi
    2.092
    Thanks
    0
    Thanked 49 Times in 34 Posts
    Năng lực viết bài
    480

    Mặc định Re: Hè về

    (Cuộc điều tra thứ tư của Matt Silvain)
    Tác giả : Michael Gouda and Stefan Schmidt - Người dịch : Vũ Quốc

    Hè về cuộc sống vui tươi
    Cá tung tăng lội, mây trôi lững lờ
    Bạc tiền như nước chảy vô
    Mẹ càng duyên dáng cơ hồ trẻ ra
    Nín đi con chớ khóc la...


    Thơ - Nguyên tác : George Gershwin - Dubose Heyward
    Phỏng dịch : Vũ Quốc

    PHẦN 1


    Thế đấy, đã vào hè, nhưng tôi chẳng thấy "cuộc sống vui tươi" tí nào ! Tôi ngồi ườn ra ghế đá công viên - "ngồi ườn ra" không phải là một từ dùng sai chỗ, chẳng qua để dễ nghe một chút. Tôi ngồi trên ghế băng dài chiếm chỗ gần hết chiếc ghế, hai chân xoạc ra, hai tay duỗi dài trên thành ghế . Tôi hình dung nếu có ai đi qua hẳn là sẽ trố mắt nhìn rồi lắc đầu bỏ đi. Tôi không phải là một cảnh quan xinh đẹp đáng nhìn ở đây. Quần áo bẩn thỉu. Ba ngày chưa tắm giặt và dưới sức nóng, tôi đoán cái mùi từ người tôi bốc ra càng khó ngữi. Nhưng bạn nên ngữi mới đánh giá đúng, chứ nhìn thì vẫn chưa đủ. Tôi cầm chai rượu táo pha cồn và mỗi khi há miệng tôi lại trút cái thứ thuốc độc đáng nguyền rủa ấy vào miệng, một ít tràn qua môi vương vãi trên áo jacket - càng bốc mùi nhiều hơn.
    Follow up:


    Trời nóng bức không nên mặc nhiều quần áo, thế nhưng người người đi lại trên đường vẫn cứ diện vào sơ mi và áo khoác ngoài trước cái nóng mùa hè. Cũng nên thấy rằng một số người không ăn mặc như thế, hãy tưởng tượng nếu họ trông thấy những thứ trên người của tôi đang mặc chắc cũng lộn mửa. Cho dù giặt kỹ vẫn còn thấy kinh khủng, cái quần không vừa với một người có số đo lưng như tôi, cà vạt thắt lòng thòng như dây treo cổ. Một chiếc sơ mi cũ kỹ, chắc đã được mặc từ đời ông đời cha cũng nên. Không cần nói cũng biết là không có cổ áo. Còn chiếc áo jacket thì khỏi nói, không chỉ không hợp với chiếc quần đang mặc, mà còn sờn rách nhiều chỗ, mặc cho ánh nắng xuyên qua . Đôi giày há mỏm, một chiếc mất cả đế. Còn vớ thì tốt nhất đừng nên nhắc đến. Bẩn thỉu như tổ đĩa, cả hai đều như thế.

    Sau nhiều ngày tìm kiếm Adrian, tôi trông như thế này đây.

    Tuần rồi, cha anh ấy đến gặp tôi, một người đàn ông mập mạp, mặt đỏ gay, để ria mép, có hàm răng đen xỉn. Trông ông ấy giống như một kẻ uống quá nhiều rượu, hút quá nhiều thuốc lá - tất nhiên người ông ta bốc lên chẳng khác gì cái mùi tìm thấy trong chiếc gạt tàn. Ông ta khập khiểng đi vào văn phòng mé chân phải còn có thêm chiếc gậy chống thật to.

    "Tôi đã được nghe nói về anh", người đàn ông nói cộc lốc. Giọng nói hách dịch, thô lổ.

    Tôi nhìn ông ta, chờ đợi ông nói tiếp. Ông ta có nói tên mình nhưng tôi không nhớ. Tôi chỉ gật đầu cho phải phép.

    "Và tôi có thể giúp gì cho ông, thưa ông... ?"

    "Ponting", ông ta nói gọn lỏn làm như là tôi đã biết rõ cái tên ấy rồi.

    Bỗng nhiên tôi nhớ ra, "Có phải ông Ponting ở hãng sơn Ponting ?"

    Người đàn ông gật đầu và cặp môi thâm xịt nở nụ cười thỏa mãn. Đáng thương thay, cặp môi ấy lại phô ra hàm răng đen kịt vì bám khói thuốc. "Chính xác như thế", người đàn ông nói.

    Tôi đã có ít nhiều ấn tượng. Sơn của Ponting tất nhiên nổi tiếng cả nước sau vài chiến dịch quảng cáo rầm rộ trên ti vi, ở đó một con chó thật to đã được huấn luyện, cắn chiếc cọ sơn giữa hàm. Không biết sơn tốt cỡ nào nhưng càng quảng cáo nhiều thì có nhiều người biết đến. Quả thực con chó trông rất dễ thương. Người ta biết đến con chó nhiều hơn là thương hiệu hãng sơn.

    "Thưa ông Ponting, có vấn đề gì ạ ?"

    Gương mặt người đàn ông tối sầm, ngay lập tức ông ta trông giống như một gã chủ hiệu thực phẩm ngoài chợ đang nổi lôi đình vì một thằng bé lấy cắp quả táo bỏ chạy, hơn là một ông chủ hãng sơn đáng giá bạc triệu.

    "Thằng Adrian là con trai tôi", người đàn ông nói.

    Tôi gật đầu tỏ vẻ hiểu biết. Lại chuyện con trai, tôi lặng thinh, chuyện lớn rồi đây.

    "Nó bỏ nhà đi rồi", người đàn ông nói tiếp.

    "Sao ông không báo cảnh sát", tôi gợi ý.

    "Tôi không thích", người đàn ông nói,"Anh thấy đấy, nó mười chín tuổi rồi còn gì. Đủ trưởng thành để tự quyết định mọi chuyện".

    Tôi lại gật đầu, "Chắc là có nguyên nhân gì đó. Có lẽ là cãi nhau. Tôi cần biết rõ chi tiết hơn, thưa ông".

    Đó là một việc khó, giống như tìm kim đáy bể, nhưng ngẫu nhiên tôi có tấm hình chàng trai. Arian là chàng trai trẻ ở đại học, học khá xuất sắc năm thứ hai, có triển vọng tốt. Nhưng sau đó thì sự việc chuyển sang một hướng khác, "Nó đi chơi với đám du thủ du thực ấy", tất nhiên điều ấy làm ông bố Ponting thất vọng. Có dấu hiệu anh chàng nghiện ma túy - Ồ, có 90% sinh viên chưa tốt nghiệp đều nếm qua thứ ấy bằng cách này hay cách khác, tôi chẳng hề ngạc nhiên vì điều ấy. Phải có "chuyện rắc rối" gì đó giữa những người trong gia đình như cha mẹ, anh chị em với nhau mà không tiện nói.

    "Tình cờ", ông Ponting nói, "tôi biết được chuyện. Chúng tôi cãi nhau kịch liệt và nó nó bỏ nhà đi mất. Chúng tôi tưởng là nó về trường đại học, nhưng tìm ở đấy không thấy nó. Từ đó đến nay tôi không nghe gì về nó nữa - chuyện ấy xảy ra cách đây 6 tuần".

    "Lần cãi vả sau cùng xảy ra khi nào, thưa ông ?"

    "Ồ, chắc anh cũng hiểu. Chúng tôi, bên nào cũng nói những điều mà thực tâm không muốn nói như thế".

    "Chính xác là nói gì ?", tôi hỏi.

    Ponting đằng hắng. Hình như người đàn ông này đang cân nhắc chuyện gì đó. "Adrian nói nó sẽ sống cuộc sống của riêng nó. Tôi bảo nó không sống nổi nếu không có tiền của tôi, cả đời nó tôi đã tốn bao nhiêu tiền của. Nó không công ăn việc làm, chẳng có năng lực gì thật sự, không thích kinh doanh, không biết vận dụng. Cái gì cũng không hết, tất nhiên sẽ bị đào thải. Nó nói nó có thể làm mọi việc mà không cần đến tôi, không cần tiền của tôi. Thế là nó bỏ đi".

    "Cậu ấy có tiền không ?", tôi hỏi, "thẻ tín dụng chẳng hạn, hoặc vay mượn từ bạn bè, họ hàng, hoặc của mẹ ?"

    Ponting lắc đầu, "Con tôi, tôi biết. Nó chẳng có gì cả".

    "Ông nghĩ cậu ấy có khả năng đi đâu ? Cậu ấy có thể ở nhờ với ai đó được chăng ?"

    "Chúng tôi đã cố tìm mọi chỗ. Bạn bè nó. Không có kết quả. Tôi nghĩ nó đang lang thang ngoài đường, có lẽ ở đâu đấy trong thành phố London này".

    "Thôi được, ông Ponting, tôi sẽ cố hết sức mình".

    Sau đó chúng tôi bàn thêm về điều kiện, mà người đàn ông mau chóng chấp nhận, sau đó bàn chi tiết về cách thức liên lạc, hỏi tên và địa chỉ bạn bè Adrian.... và người đàn ông ký vào bản hợp đồng. Người đàn ông trao tôi một tấm hình của Adrian. Thoạt nhìn, tôi thấy ngay đó là một thanh niên có gương mặt tươi vui, mắt xám, tóc màu vàng nhạt, nhưng nụ cười - nếu nhìn kỹ chỉ là sự vui tươi giả tạo.

    Ponting đứng dậy sắp sửa ra về thì tôi ngăn lại, "Còn một điểm cuối cùng thưa ông", tôi hỏi, "lần cãi nhau cuối cùng thực chất là cãi về chuyện gì ?"

    Người đàn ông vờ vịt khoác tay cố né tránh câu hỏi, "Anh biết rồi đấy", người đàn ông đáp, "toàn là chuyện gia đình thôi".

    "Tôi không biết gì cả", tôi nói, "nhưng tôi cần biết. Có thể đó là yếu tố quan trọng".

    "Tôi không nhớ nữa", người đàn ông đáp, ngay cả khi biết rằng ông ta nói dối tôi cũng không nài ép thêm.

    Vậy là tôi có mặt ở đây, một mình lang thang trên phố, giống như một kẻ không nhà để tìm cái kẻ bất cần đời kia.

    Có nhiều việc cần phải suy tính, đi đâu, làm gì, quan trọng hơn là, cái gì không nên làm. Tránh mặt ai, tìm ở những chỗ an toàn được mệnh danh là "khu vực xanh", đơn giản chỉ có nghĩa là nơi không có những nguy cơ rình rập. Nơi tôi đang ngồi là một trong số những khu vực xanh ấy. Người người qua lại, một số người tỏ ra nghi ngờ, một số khác chỉ ngạc nhiên nhưng không có ác cảm. Tôi dò la một cách cẩn thận, vì không muốn để ai biết thực chất tôi đang tìm người. Tôi có tên, có mô tả nhân dạng, thời điểm xảy ra chuyện, dù vậy tôi vẫn không dùng đến tấm hình. Nhưng không ngon ăn chút nào. Luân Đôn là một chốn rộng lớn. Người tứ xứ tụ tập về đây và tôi chẳng biết bắt đầu từ đâu. Nhưng tôi có chút ít dấu vết. Có người thấy một gã thanh niên theo lời tôi mô tả ở khu vực công viên Finsbury - tôi phải giải thích rằng tôi nợ người ấy một ân huệ và muốn tìm gặp để đáp đền. Cứ hỏi bà "Trưởng lão Cái bang", người này khuyên tôi như thế. Bà ta luôn có mặt ở công viên. Vì thế tôi mới xuất hiện ở nơi này, lười nhác dưới ánh mặt trời và nghĩ xem có cách nào kiếm sống dễ dàng hơn không thì lúc ấy...

    "Chúa ơi ! Matt ! Chuyện gì xảy ra với anh vậy ?"

    Giọng nói của quá khứ, mặc dầu không phải là một quá khứ xa xôi cho lắm. Cái anh chàng Paul Massingham tóc hung, người tình cũ, tôi vẫn yêu, nếu buộc phải thừa nhận, trong tâm tưởng của tôi. Paul dáng dong dỏng cao, mảnh khảnh và đầy vẻ quyến rũ, còn tôi, trông chẳng ra hình dạng gì, chẳng khác nào một cái thùng rác trong ba tháng qua. Tệ thật ! Biết ăn nói làm sao ...

    Và tôi lập tức nhìn thấy kẻ bám sau lưng Paul, hàng lô lốc những chiếc túi nhựa đựng thứ gì đó bên trong mà tôi không rõ - Bà "Trưởng lão Cái bang", chính là người tôi đang mong gặp mặt - vì vậy tôi không cần phải đi đâu xa nữa. Tôi giải thích với Paul một cách mơ hồ.

    "Vì công việc", tôi lẩm bẩm nói qua kẽ răng, "Lâu lắm rồi anh chưa có cơ hội đụng vào ai cả", lần này lời nói lớn hơn cố tình cho người đàn bà kia nghe.

    "Vì cái gì ?", Paul hỏi.

    "Vì em", tôi nói lớn, "Em có thể ngồi đây một chút như bao nhiêu người khác... ", tôi nói nhưng mắt vẫn lơ đãng, "cho anh sờ một chút thôi", tôi nói nhỏ.

    Rõ ràng Paul tỏ ra sững sốt, thậm chí là có thể nổi nóng vì thái độ sàm sở của tôi. Nhưng Paul ngẫm nghĩ gì đó rồi nói, "Anh phải tắm trước đã", sau đó bỏ đi một nước, không quay lại nhìn lần nào. Lẽ ra tôi phải nhìn kỹ để đoán xem phản ứng của Paul thế nào nhưng tôi còn có việc phải làm.

    Người đàn bà được mệnh danh là "Trưởng lão cái bang" - không ai biết tên thật của bà - đang ngồi xổm trên ghế dài kế bên tôi, lưng dựa ra sau thành ghế để ánh mặt trời chiếu lên mặt mình. Quanh người đàn bà này lủng lẳng những túi nhựa, màu đen, loại túi đựng rác. Bên trong chứa những tài sản của bà và bà trông giữ cẩn thận như sợ người khác cướp mất, sẵn sàng nhe hàm răng đen kịt gầm gừ đe dọa nếu có ai đến gần. Bên trong những chiếc túi ấy là tất cả những gì bà có được, từ việc lượm lặt ở các thùng rác nếu may mắn, những món đồ chơi gãy sứt, sách mất bìa, vật dụng bằng nhựa hư hỏng - những gì người ta bỏ đi đều là tài sản của bà.

    Bà mặc bất cứ thứ gì có được, lớp trong lớp ngoài chồng lên nhau, làm bằng những loại vải bẩn thỉu không còn màu sắc ban đầu bây giờ cứ xin xỉn một màu giống như đồng phục, và cái mùi - không có gì so sánh được - cái mùi cũ kỹ giống như thứ mùi bạn ngữi thấy trong nhà thờ đầy bụi bẩn, ẩm thấp hoặc mùi của những quyển sách mục nát.

    Bà ta chẳng hề phải lo lắng gì, ngoại trừ lo người ta sẽ đánh cắp tài sản quý giá của bà. Bà thường phải chịu cơn đói dày vò nhưng cô Sally Ann thỉnh thoảng cũng đến cho bà ít súp và bánh mì. Cái giá lạnh ban đêm bà có thể chịu được, nó là người bạn đồng hành mà bà không hề mong đợi. Sự thật là tôi ngồi kế bên người đàn bà này, bà ta đang ngồi xổm nhe răng gầm gừ đe dọa những kẻ không mời mà tới.

    Người đàn bà đăm đăm nhìn cái chai trong tay tôi, ánh mắt người đàn bà tươi tỉnh tỏ ra dễ thương hơn.

    "Tôi khát khủng khiếp", người đàn bà nói. Cái giọng nói rời rạc và đùng đục cứ như là bà quên nói chuyện từ rất lâu.

    Tôi trao cho bà chai rượu mạnh và bà tợp một ngụm lớn, rồi ngụm khác. Tôi tự hỏi không biết bên trong người bà có thứ gì chưa. Bà đưa chai rượu cho tôi. "Cứ giữ lấy mà uống", tôi bảo mặc dù đó không phải là tính cách của tôi. Thỉnh thoảng có một cử chỉ hào hiệp thì cũng nên, nhưng rộng rãi quá đôi khi cũng khiến người khác nghi ngờ.

    "Cám ơn", bà vừa ợ vừa nói cộc lốc, lộ vẻ ngờ vực, nhưng vẫn không nhận chai rượu. Người đàn bà nhìn tôi đăm đăm cố để hình dung cái gì đang ở trước mắt bà. "Tôi chưa từng thấy anh ở đây", bà nói, nỗi ngờ vực gia tăng.

    Tất nhiên tôi cũng chưa từng gặp bà ta, nhưng tôi biết khá nhiều về người đàn bà này. Mọi người đều biết bà "Trưởng lão Cái bang", và theo lời kể lại, thì bà ta biết mặt hầu hết những người lui tới nơi đây. Đó là lý do vì sao tôi chọn đúng chiếc ghế đá này đúng vào thời điểm này, vì tôi biết rằng đó là chỗ bà ta thường lui tới.

    "Tên tôi là Matt", tôi nói.

    "Ai hỏi tên anh", người đàn bà nói, mặc dầu tôi thừa biết bà sẽ đem cất cái tên tôi vào một ngăn nào đó trong bộ não của bà "Ngủ ở đâu ?".

    Thì ra, điều quan trọng hơn cả cái tên chính là chỗ ngủ qua đêm. "Trạm xe điện", tôi đáp.

    Người đàn bà nhìn tôi rồi nói "Vào khu nhà kho ngủ vẫn tốt hơn ở ngoài công viên Finsbury".

    Tôi nhận ra bà ta đang cho tôi một lời khuyên. Tôi gật đầu và cảm ơn rối rít nhưng trong lòng vẫn dấy lên nổi nghi ngại.

    Một lúc sau tôi bỏ đi, sau khi mời bà uống thêm hai ngụm nữa.

    Sực nhớ một điều, tôi quay lại hỏi "Gần đây bà có thấy Adrian không ?"

    Người đàn bà quệt tay lên miệng lau những giọt rượu còn sót lại. "Tên gì kỳ vậy", người đàn bà nhìn tôi, có vẻ như để khẳng định hơn là thái độ phê phán. "Adrian già hay trẻ ?"

    "Anh chàng Adrian trẻ ấy".

    Người đàn bà ắt hẳn cũng có đôi điều thắc mắc trong đầu - hoặc ít ra tôi cũng đoán bà ta đang thắc mắc - dù vậy bà vẫn phun ra từng câu rời rạc "Có thấy, tuần rồi", bà nói, "Đi ngược lên phía Bắc".

    Ở Reykjavik, tôi muốn điên cái đầu, hay ở Bắc Cực, hay một chỗ nào đó xa hơn. Cái ý nghĩ đó khiến tôi gần như chết cứng ngay lúc đó.

    "Công viên Belsize".

    "Có phải cái anh chàng Adrian tóc vàng", tôi kiểm chứng cho chắc ăn.

    Người đàn bà gật đầu "Đúng đấy", bà nói.

    Tuyệt thật, tôi nghĩ thầm, trong khi đang đổ mồ hôi vì ánh nắng mặt trời. Tôi tự nhủ nếu có chút ít thông tin gì về lần cãi nhau cuối cùng của gia đình họ thì hay biết mấy. Không có chút đầu mối nào. Dù là gay hay đàn ông chính hiệu, thì một người sống lang thang cũng cần có khả năng và sự thích nghi mới có thể tồn tại được.

    Công viên Belsize. Một ngọn đồi dốc bên ngoài trạm xe điện ngầm, phải đi ngược lên Hampstead Heath, rồi xuống thị trấn Camden. Một dãy phố các cửa tiệm đối diện nhau, cửa hàng rau quả, cửa hàng bán thức ăn chế biến sẳn, dịch vụ lữ hành, tiệm bánh ngọt. Tôi vào con phố mua một khúc xúc xích. Người phụ nữ sau quầy rõ ràng không mong muốn tôi bước vào cửa hiệu sạch sẽ của bà - cũng khó trách bà ấy, nhưng bà ấy bán hàng cho tôi mà mặt mày nhăn nhó, khó chịu.

    Tôi bước ra ngoài tìm một chỗ ngồi - một chỗ dành cho khách bộ hành nghỉ chân. Một người đàn ông đứng tuổi - bề ngoài giống như một gã có "tâm hồn tự do" (ND : dân bụi đời) - tôi đoán thế - đang ngồi đầu ghế bên kia. Người này mặc một áo choàng xám dài tới mắt cá chân, bên dưới là đôi giàu xăng-đan. Bên trong, những ngón chân đen xì trông giống như nhúng bùn, còn mắt cá xây xát. Tôi ăn khúc xúc xích, lấy chai rượu táo pha cồn trong túi, chuẩn bị trò chuyện, tôi đưa chai về hướng người ấy.

    "Thứ này sẽ giết anh mất", người đàn ông nói với vẻ hiểu biết. Đôi mắt nhìn tôi, cặp chân mày nâu nhíu lại. Trông người này không khỏe mạnh lắm. Nước da xanh mét trên gương mặt lấp lánh mồ hôi, một ngày nóng bức thế này mà người này vẫn mặc áo khoác ngoài dày cộp.

    "Anh nói đúng", tôi nói, "không ngại uống một ngụm chứ ?".

    "Nếu muốn tự sát, thà rằng tôi về nhà chui đầu vào bếp ga còn hơn".

    Tôi không có ý định chỉ ra rằng, ga đốt không phải là thứ giết người tức thì, nó phải tràn ngập gian phòng cho tới khi không còn oxy rồi mới làm cho bạn chết ngạt. Rõ ràng người này không phải là dân bụi đời như cái vẻ bề ngoài. Tuy nhiên điều ấy vẫn có thể đúng, nếu như người đàn ông là "khách mối" của ghế đá này, nơi có thể ngắm nhìn mọi thứ diễn ra, hiểu biết và ít nhất là có chú ý sự việc diễn ra xung quanh.

    "Xin lỗi ông", tôi nói, "Ông có thấy đám con trai hò hẹn quanh đây không ?"

    Người đàn ông vênh mặt hỏi, "Cái gì khiến anh nghĩ tôi tới đây kiếm trai ?", gã nói, một câu nói gai góc nếu không nghĩ đó là phản ứng tức giận của người đàn ông.

    Tôi nhận ra mình đã phạm sai lầm. "Ồ không, tôi không có ý đó. Tôi đang tìm người. Có người nhìn thấy người tôi tìm ở công viên Belsize. Tên cậu ấy là Adrian".

    "Tôi không quen cái tên ấy. Người này trông thế nào ?"

    Tôi lấy tấm hình trong túi đưa cho người đàn ông. Người này rụt rè cầm lấy nhưng sau khi liếc sơ qua thì người đàn ông xăm xoi nhìn kỹ hơn, sắc mặt biến đổi và gần như muốn nhảy dựng lên. "Có đấy", người đàn ông nói, "Tôi có thấy người này. Tôi nhớ màu tóc. Trông anh chàng không vui vẻ gì. Tôi nghĩ anh ta sợ thì đúng hơn. Thỉnh thoảng cứ ngoáy ra sau nhìn, cứ như là có ai theo dõi anh ta vậy".

    "Ông gặp lúc nào ?", tôi hỏi.

    "Sáng nay. Cách đây vài giờ, tôi đoán thế. Chắc là vào khoảng 7 giờ".

    "Cậu ấy đi đâu ?"

    "Lên đồi Rosslynl. Đi về phía Hampstead". Người đàn ông hất hàm về bên phải ra dấu.

    Tôi định đứng lên nhưng chợt nghĩ ra một điều, "và ở chỗ đó sao ?", tôi hỏi.

    "Cái gì ở đó ?"

    "Người theo dõi cậu ấy đó ?"

    "Tôi không biết nhiều như thế đâu. Mà cũng không thấy ai cả", người đàn ông dừng lại một chút rồi nói tiếp, "ngoại trừ anh".

    Tôi mỉm cười, đứng dậy.

    "Ừ, có lẽ tôi cần uống một chút", người đàn ông nói.

    Thấy tay người đàn ông run run, tôi đưa chai rượu cho người này.

    Đồi dốc, trèo lên ngọn đồi làm tôi mướt mồ hôi. Tôi đi qua một bệnh viện ở phía tay phải, đi theo con đường xuống bên dưới. Vừa qua khu Flask Walk thì thấy có hai người đàn ông dựa lưng vào tường bên ngoài quán rượu "The Flask". Hai người này tay cầm hai ly bia lớn, trông phát thèm. Trông họ vô hại nhưng cũng khó bắt chuyện.

    "Xin chào", tôi nói, "tôi đang tìm người này, nếu có thấy vui lòng chỉ giúp", tôi đưa tấm hình cho họ xem.

    Họ nhìn tôi bằng ánh mắt nghi ngờ, đây không phải là lần đầu tiên, ước gì tôi về nhà được để thay đổi cái bộ dạng "ma cà bông" của mình để trở thành một quý ông lịch thiệp, bây giờ ai nhìn tôi mà không ngờ vực mới lạ.

    "Tìm để làm gì ?", một người hỏi.

    "Ê này, không phải là cái thằng hỏi anh mấy giờ rồi chứ ?", người kia nói, rõ ràng có ý biếm nhẽ, "còn anh thì bảo tự mua đồng hồ mà xem đấy sao ?".
    * Ủng hộ quảng cáo vì sự phát triển của Vietboy[dot]net.

    * Hãy bấm nút "Thanks" nếu bạn cảm thấy bài viết của ai đó có ích!


    Upload ảnh: http://img.vietboy.net

    New English site: http://boybb.net

  5. #5
    Tham gia ngày
    Feb 2009
    Bài gửi
    2.092
    Thanks
    0
    Thanked 49 Times in 34 Posts
    Năng lực viết bài
    480

    Mặc định Re: Hè về

    Phần 2


    "Xin cảm ơn các ngài", tôi nói với vẻ thản nhiên để che dấu giọng mỉa mai và đi ngay lập tức, theo sau là tiếng la ó, chửi rủa "Đồ dâm đãng, lũ đồng dâm khốn nạn". Nhưng lời chửi rủa ấy không có ý đe dọa và không ai muốn đuổi theo.

    Đoạn bên trên con đường là quán rượu "William đệ tứ" nhưng tôi bỏ qua. Trông chỗ đó cũng thiếu lịch sự và e rằng tôi cũng không nhịn được. Tôi cố nhìn vào sân nơi mấy tay bợm nhậu đang ngồi bàn văng tục ồn ào. Adrian, người tôi tìm chắc không ở trong số những người kém văn hóa này.

    Tôi rẽ phải tại trạm xe điện Hampstead, ngẫu nhiên đây là chỗ sâu nhất trong toàn bộ hệ thống xe điện ngầm ở Luân Đôn, và dẫn tới đường Heath bên trên, hơi dốc một chút, tuyến đường xe điện ngầm sẽ chạy tới hồ Round, lâu đài Jack Straw để lên đường Health.

    Đến nơi, tôi nghe tiếng còi rúc lên. Một số người đang say mê đứng xem số nam sinh đang đua thuyền quanh hồ. Một xe cảnh sát, một xe cứu thương chạy dọc theo đường Spaniards hụ còi ầm ỉ, nhân viên cảnh sát và nhân viên y tế đổ xô vào con đường hẹp dẫn tới một khu vực cây cối um tùm được gọi là đường Heath nối dài. Bỗng dưng tôi cảm thấy lạnh xương sống nên lật đật chạy theo họ. Cách đó khoảng 100 yards khu vực bên dưới rừng cây, có một người cầm điện thoại di động đứng đó. Lúc cảnh sát đến nơi, người này chỉ vào bụi cây mâm xôi bên vệ đường. Tôi thấy có người nằm đó, mặc đồ màu xanh, tóc vàng cắt ngắn.

    Một nhân viên y tế quỳ bên cạnh đang bận rộn với việc cấp cứu. Một viên cảnh sát quay lại, đối diện với tôi và những kẻ hiếu kỳ đến xem.

    "Không có gì hết", viên cảnh sát nói, "Xin lùi lại đi, đừng cản trở công việc của cảnh sát".

    Tôi hít một hơi dài rồi nói, "Tôi biết người này".

    Viên cảnh sát nhìn tôi từ đầu tới chân, nhìn bộ quần áo như tổ đĩa, khó có thể tin lời một gã như thế này, vì thế người cảnh sát này nói "Đây không phải là chuyện đùa, thưa ông". Tôi có thể hiểu cái gọi là "thưa ông" kia hàm ý gì.

    Tôi lấy ra tấm hình và đưa cho viên cảnh sát xem. "Có đúng là người này không ?"

    Viên cảnh sát cầm tấm hình xem qua rồi quay lưng đi tới đám người đang vây quanh cái thi thể kia. Họ trao đổi gì đó, cô nhân viên y tế đứng dậy, lắc đầu, sau đó có một viên hạ sĩ cảnh sát xoay người lại ra dấu bảo tôi đến gần, những người khác hiếu kỳ cũng muốn đến xem nhưng đều bị chặn lại.

    Chàng trai nằm ngữa, ánh nắng xuyên qua cành lá chiếu trên gương mặt. Mắt mở trừng trừng, miệng há to giống như đang la lên. Mái tóc vàng rũ rượi. Cái vật màu xanh mà tôi nhìn thấy là chiếc áo pull. Khi tôi đến nơi thì người ta đã đặt chàng trai lên băng ca, tôi thấy sau gáy chàng trai có một vết màu nâu sẫm. Có ai đó đập vào gáy chàng trai.

    "Thôi được, con trai", viên hạ sĩ cảnh sát nói, "tốt hơn hết là kể cho chúng ta nghe về những điều con biết đi nào".

    Sau đó, tức là sau khi tôi trình "giấy ủy nhiệm" (tức tấm hình), thì tôi giải thích sự có mặt của mình, thực hiện việc tìm con theo yêu cầu của cha Adrian Ponting, rồi cách tôi theo đuổi chàng trai từ công viên Finsbury cùng với việc thu thập thông tin từ nhiều người trên đường tới đây như thế nào, và những người biết rõ sự việc làm chứng cho tôi, thế là tôi được phép về nhà.

    Coi như công việc đã kết thúc. Tôi đã tìm được Adrian và ngay lúc này hẳn là ông Ponting đã nghe được tin tức. Tôi hiểu rằng mình có thể liên lạc với ông ấy chậm một chút cũng không sao, nếu như ông ấy không chủ động liên lạc với tôi trước. Nói vắn tắt, tôi nghĩ về món thù lao của mình. Tôi cởi bộ quần áo kinh tởm của mình và bước vào vòi sen, ở đó tôi bỏ ra nửa giờ để tẩy rửa những chứng tích của nhiều ngày không tắm gội. Nhưng khi nghĩ đến cái thi thể chàng trai tên Adrian thì tôi không thể ngâm mình lâu hơn được.

    Không thấy đói cũng không muốn ở một mình. Tôi có thể điện thoại cho những người mình quen biết nhưng tôi biết rằng nếu tôi liên lạc được thì sẽ bắt đầu bằng câu chuyện về chàng trai Adrian, nhưng tôi không muốn thế. Vì với hầu hết trong những người này, câu chuyện sẽ trở thành một chuyện tục tĩu, dâm ô, tôi quá quen chuyện ấy rồi. Rồi tôi chợt nhớ tới Paul. Tôi còn nợ chàng trai một lời giải thích sau lần gặp nhau sáng nay. Phải chăng tôi muốn quan hệ trở lại với cậu ấy ? Thời gian qua, việc chia tay nhau đã là một chịu đựng khó khăn. Tôi quay số. Nếu như cậu ấy không có nhà, thì tôi sẽ coi như không có chuyện gì.

    Đến hồi chuông thứ ba, Paul trả lời điện thoại, nghe tiếng cậu ấy mà hai đầu gối tôi phát run. Hy vọng không lộ ra qua giọng nói của tôi.

    "Xin lỗi về chuyện sáng nay", tôi nói, "Chắc hẳn em nghĩ rằng anh đã bỏ qua dịp may của mình".

    "Chúa ơi, Matt", Paul nói, "Em không nghĩ vậy đâu. Nếu anh không mở mắt nhìn, có lẽ em đã dúi tờ giấy 10 pao vào bàn tay bẩn thỉu của anh rồi".

    "Anh không đáng giá hơn 10 pao hay sao ?", tôi hỏi đùa.

    Dù vậy, giọng nói của Paul vẫn tỏ ra nghiêm túc "Anh chỉ đáng chừng ấy mà thôi", chàng trai nói, hai đầu gối tôi va vào nhau. "Mọi chuyện như thế nào vậy ?"

    "Đó là một câu chuyện dài", tôi đáp.

    "Có muốn kể cho em nghe không ? Nếu rảnh, mình đi kiếm thứ gì uống đi - nhưng anh phải tắm trước mới được !"

    Tôi đang rảnh, lại vừa tắm xong. Ngữi mùi cũng không đến nổi mất mặt, tôi nghĩ thầm như thế. Chúng tôi gặp nhau tại quán "Thanh gươm và Khẩu súng" ở đầu đường, chỗ rẽ vào nhà Paul. Tôi có xe riêng, nhưng Paul thì không.

    Tôi ngồi đối diện và chăm chú nhìn Paul, cứ như mới lần đầu gặp nhau. Tóc hung, thẳng nếp nhờ vuốt gel. Mày đậm. Tôi quan sát gương mặt chàng trai, trẻ trung, tươi tỉnh. Tôi có thể nhớ từng đường nét trên cơ thể chàng trai với làn da mềm mại, mịn màng. Đôi mắt nâu vô tư và nụ cười quyến rũ.

    Chàng trai ít nhiều có thay đổi không mặc "hàng hiệu" nữa, bây giờ đang mặc chiếc áo pull trắng, càng trông sạch sẽ và khỏe khoắn. Nhìn chỉ muốn lột trần, tôi nhận ra mình đang bị kích động. Nhưng tôi đã cắt đứt quan hệ và tự hỏi không biết mình có còn cơ hội nữa không.

    "Rất vui vì gặp lại anh, Matt", Paul nói, "Em nhớ anh nhiều lắm".

    "Coi nào, chắc là chỉ mới nhớ từ lúc sáng phải không ?".

    Chàng trai nhăn mũi cười, đúng như điều tôi đã hình dung, trí nhớ của tôi cũng còn tốt chán. "Luôn nhớ anh. Không bao giờ anh tỏ ra nghiêm túc, dù chỉ một lúc".

    "Có lẽ anh không muốn đau khổ lần nữa".

    Chàng trai nhìn thẳng vào mắt tôi thật lâu, tôi cảm thấy lúng túng, nhưng không biết phải nói gì hoặc làm gì. May thay tôi chợt nhớ chuyện ban sáng, nên cũng thoát khỏi tình trạng ngượng ngập này, "Anh cá là em rất muốn biết chuyện gì xảy ra lúc sáng".

    Paul thở dài, "Em cũng không biết mình nghĩ gì nữa".

    Tôi kể cho Paul nghe những nét chính của câu chuyện, rằng làm thế nào mà người cha đến thuê tôi tìm con trai, rằng ông ta sợ con gặp nguy hiểm ngoài đường, về chuyện bà "Trưởng lão Cái bang" chỉ tôi tới Hampstead và người đàn ông trung niên mặc áo khoác xám ở đường Heath. Rồi sau đó là chuyện tìm thấy tử thi của Adrian Ponting.

    "Ai, anh nói ai ?", Paul hỏi.

    "Adrian Ponting", tôi đáp.

    "Có phải con ông chủ hãng sơn Ponting không ?

    Tôi gật đầu.

    "Nhưng em biết, à... trước kia có biết cậu ấy".

    "Em có ngủ với cậu ấy chưa ?", tôi hỏi trước khi kịp ngậm miệng lại. "Xin lỗi, anh chỉ hơi tò mò một chút".

    "Một lần", Paul đáp, "Cậu ấy bị rối loạn thần kinh. Cậu ấy sợ đến phát bệnh khi nghĩ đến việc cha mẹ phát hiện cậu ấy là người đồng tính".

    "Họ biết rồi", tôi nói, "Anh chắc vì thế mới có vụ cãi nhau".

    "Và bây giờ cậu ấy đã chết. Cảnh sát nghĩ gì ?"

    "Có ai đó đập vào gáy cậu ta rồi bỏ trốn mất".

    "Nhưng, xảy ra giữa ban ngày hay sao ? Nghe không lọt tai chút nào".

    Tôi tán thành, "Cậu ấy đang ở chỗ mà dân gay thường ra đấy hò hẹn, dù khó có thể tin vụ việc xảy ra vào giờ ăn trưa, nhưng người ta vẫn xác định trong một khoảng thời gian gần đấy".

    "Vậy không ai làm gì sao ?".

    "Họ sẽ điều tra, anh đoán như thế, nhưng có thể cậu ấy chết sau hai giờ thì người ta mới phát hiện. Khoảng thời gian ấy đủ để thủ phạm cao chạy xa bay. Và nếu như không có đầu mối liên quan tới kẻ tấn công Adrian, thì hơi khó tìm vì chỗ ấy khá hẻo lánh".

    "Cậu ấy không nên đi ra ngoài mới phải", Paul nói, "Anh định làm gì với vụ này ?"

    "Anh ư ?", tôi nhìn chàng trai hầu như không nói được lời nào. Nhưng sau đó thì tôi cũng tìm được lời để nói, "Về nhà, anh có thể làm gì được ? Hơn thế nữa, anh cho rằng công việc mình đã kết thúc. Anh đã tìm ra Adrian. Nhiệm vụ đã hoàn thành".

    Paul lại nhìn tôi, tôi có thể trông thấy cậu ấy tỏ ra thất vọng. Tôi tìm cách chống chế, "Nếu cảnh sát không tìm ra được kẻ giết người, thì anh còn làm gì được nào ?".

    Paul vẫn nhìn tôi không nói. Đến nước này thì tôi phải đầu hàng thôi. "Thôi được. Anh sẽ dò hỏi quanh đấy xem sao. Để anh tìm xem có ai lảng vảng gần đấy vào lúc ấy hay không. Biết đâu họ có thể cho mình biết đôi điều mà họ không nói với cảnh sát". Đột nhiên, tôi nhớ một chuyện. "Anh có gặp một người đàn ông trung niên ở bên ngoài khu vực trạm xe điện - công viên Belsize, người này nói trông Adrian hoảng sợ lắm. Còn nói rằng cậu ấy cứ ngoáy nhìn sau lưng như có ai theo dõi cậu ấy".

    Paul mỉm cười. Tôi cảm nhận một bàn tay ấm áp đặt lên gối tôi, bên dưới gầm bàn. "Em biết anh sẽ làm mà". Tôi đặt tay lên bàn tay ấy. Hai chúng tôi ngồi sát, má tựa vào nhau. Tôi muốn hôn chàng trai.

    "Em tin rằng anh sẽ làm", chàng trai lập lại, "Anh thật tử tế".

    Tôi tự hỏi, nếu đó là bất kỳ ai khác liệu rằng Paul có đòi hỏi tôi phải đi điều tra hay không. "Làm cho anh đi", tôi nói.

    Bàn tay chàng trai nhẹ nhàng di chuyển từ gối lên phía trên, lần tới háng tôi. "Muốn về nhà em không ?", chàng trai hỏi.

    Có chứ ! Tất nhiên là có rồi !

    Con cặc tôi bắt đầu cựa quậy. Nhưng....

    "Lần cuối, mình làm hấp tấp quá", tôi nói.

    Không thấy Paul biểu lộ tình cảm gì nhưng bàn tay chàng trai vẫn mò mẫm giữa háng tôi. Tôi nghĩ rằng chàng trai hiểu ý mình. Tôi hôn chàng trai trước khi lên xe về nhà. Ở lối ra vào một cửa hàng, nơi đó không ai thấy chúng tôi. Chàng trai ép sát người vào tôi. Tôi suýt thay đổi ý định không về nhà nữa nhưng chàng trai đẩy tôi ra và bỏ đi không quên nói, "Mong sớm gặp lại anh". Tôi hy vọng đó không phải là sáo ngữ.

    Sáng hôm sau tôi có việc phải đi sớm. Ý tôi là thật sớm.

    Bốn giờ. Trước khi bầy chim sẻ chíu chít ngoài cửa sổ, thì có một tiếng ầm ngay cửa trước. Không kịp bật dậy, mắt nhắm mắt mở chỉ thấy đồng hồ báo giờ trên radio chỉ 4 giờ 01 phút, lúc ấy có tiếng la bên ngoài" Cảnh sát đây", rồi nghe có tiếng chân thình thịch ngoài cầu thang.

    Hai người to cao ập vào phòng ngủ của tôi - cũng không kịp kêu ca phàn nàn, thì lần này càng đáng sợ hơn, hai người lôi xềnh xệch tôi ra khỏi giường, lúc ấy tôi còn trần truồng và đọc lệnh, "Chúng tôi bắt ông vì nghi ngờ ông có liên quan đến vụ sát hại Adrian Ponting. Ông không cần nói gì vì điều ấy sẽ khiến ông lâm vào cảnh bất lợi, mọi điều ông cần trình bày khi được thẩm vấn sẽ là chứng cứ trước phiên tòa. Ông hiểu rõ chứ ?'

    "Không", tôi nói, nhưng họ chẳng đếm xỉa gì, bắt tôi mặc quần áo vào và đi xuống trạm xe điện ngầm.

    Thấy tranh cãi cũng vô ích, tôi làm theo những gì họ bảo. Họ cho phép tôi đi tiểu nhưng vẫn để một người đứng bên cạnh trông chừng, sau đó tôi theo họ vào xe cảnh sát, không quên đóng cánh cửa bị phá hỏng lại để tránh người lai vãng khi tôi vắng nhà.

    "Sẽ có nhân viên cảnh sát quay lại lục soát chỗ này", một viên cảnh sát nói, một câu nói làm tôi đâm bực bội. Tôi có một số hình ảnh "tươi mát" trên đĩa cứng. Tôi không nghĩ những thứ ấy vi phạm luật pháp nhưng ai biết chuyện gì sẽ xảy ra ?

    Tại cơ quan cảnh sát, Họ khám xét tôi cẩn thận để chắc rằng trên người tôi không mang theo thứ gì, dù chính mắt họ trông thấy tôi mặc quần áo vào trước đó, rồi sau đó tống tôi vào xà lim. "Tôi cần gọi một luật sư", tôi nói.

    "Chuyện ấy để sau", viên hạ sĩ chấp pháp nói. "Giờ này không có luật sư nào làm việc đâu", dĩ nhiêu điều này không sai, dù chẳng làm tôi vui lên chút nào. Tôi cố nghĩ xem chuyện gì xảy ra. Không có cách gì mà tôi có khả năng xuất hiện ở đâu đó gần đường Heath đúng vào lúc Adrian bị giết. Người đàn ông mặc áo choàng xám sẽ làm chứng, cho họ biết rằng lúc ây tôi còn ở công viên Belsize, và sau đó là mấy thằng cha ngoài quán rượu.
    Nói gì đi nữa, nếu tôi thật sự giết Andrian, tại sao tôi phải quay lại hiện trường để xác định có phải là anh ta hay không và còn lộ diện trước cảnh sát nữa chứ ? Không ai ngu ngốc làm như vậy. Bỗng nhiên tôi nhận ra rằng mình đang rơi vào một tình huống bất lợi nên cảm thấy hơi sợ.

    Một lát sau, một nhân viên cảnh sát mang cho tôi một tách trà sữa. Tôi đành uống mặc dù chẳng thích thú gì với loại thức uống này. "Nhân viên điều tra sẽ đến đây lúc 8 giờ sáng", người này nói với tôi.

    Tôi ngồi trên ghế băng cứng ngắc, chờ đợi.

    Một vài "thế kỷ" sau, người ta gọi tôi vào thẩm vấn, một gian phòng nhỏ, không cửa sổ, tường toàn một màu sơn xanh trông đã phát nôn, thoang thoảng mùi thuốc khử. Một bàn, ba ghế . Hai người mặc cảnh phục ngồi kèm tôi ở giữa. Hai người tự giới thiệu là Thanh tra Rees và thám tử Parry. Rees là người cao gầy trông cứ như là một thằng ốm đói. Parry thì còn trẻ, tướng tá dễ coi.

    Tôi hiểu mình nên im lặng nhưng tôi không thể nhịn được, "Tất cả chuyện này là như thế nào ?".

    "Hẳn là ông đã được lưu ý trước rồi chứ", thanh tra Rees hỏi. Ông ta quay sang người đồng sự "Cho hỏi, ông Silvain chưa được thông báo gì sao ?". Giọng ông ta khô khốc, có phần gay gắt.

    "Tôi chẳng hiểu gì hết", tôi nói, "ngày hôm qua tôi mới ở đây. Các ông đều hài lòng về những chuyện tôi kể lại".

    Rees mở cặp hồ sơ trên bàn. Ông ta mở nhưng chẳng buồn nhìn. "À vâng. Ông đã nói rằng ông nhận được sự ủy thác của ông Bernard Ponting để tìm đứa con trai cho ông ta tên là Adrian".

    "Đúng vậy", tôi đáp.

    "Chúng tôi đã thông báo cho ông Ponting về cái chết bất ngờ của con trai ông ta. Ông ta khai là không biết gì về ông cả, ông ấy còn phủ nhận rằng không hề yêu cầu ông tìm kiếm con trai ông ta".

    Tôi như bị tát vào mặt, không nói được tiếng nào. Tôi nhận ra tình huống tồi tệ ngay trước mắt - tôi đã sa chân vào cái bẫy trong chính công việc của mình.

    "Tôi cần gặp một luật sư", tôi nói.

    "Ông có sẳn người nào chưa ?", Thanh tra Rees hỏi với giọng mềm mỏng lịch sự.

    Tôi ư, dĩ nhiên là không có rồi. tôi chưa từng gặp trường hợp nào phải cần đến luật sư, nên chẳng biết được tên người nào. Tôi lắc đầu.

    "Ông được quyền yêu cầu tư vấn pháp lý", thanh tra Rees nói, "Chúng tôi có thể tìm cho ông một luật sư. Nhưng không may là ông ấy chỉ bắt đầu làm việc vào 9 giờ 30".

    "Vậy thì tôi sẽ không nói bất cứ điều gì cho tới khi ông ấy đến đây", tôi đáp.

    Thanh tra Rees thở dài, cứ như là tiếng thở dài hoàn toàn ngẫu nhiên. "Ông Silvain", viên thanh tra nói, "có thể chúng ta trò chuyện một chút để xem xét lại toàn bộ sự việc trong khi chờ luật sư đến đây".

    Bắt kẻ sát nhân trong một thời gian ngắn vài giờ chẳng phải là có chứng cứ phạm tội hay sao ? Nghe như chẳng có gì cần phải xem xét hay sắp xếp sự kiện để mà làm gì.

    "Dĩ nhiên, ông có đầy đủ mọi quyền theo luật định, nhưng hãy đặt mình vào bối cảnh của chúng tôi. Ông có một câu chuyện lạ lùng để coi đó là lý do theo dõi nạn nhân, và lý do đó lại bị bác bỏ bởi chính người ông chỉ danh".

    "Nhưng tôi đâu có mặt gần đường Heath trong lúc anh ta bị sát hại".

    "À vâng, người đàn ông mặc áo choàng xám và hai thằng côn đồ ở bên ngoài quán rượu. Tôi e rằng chúng tôi không thể tìm được bất kỳ ai trong số họ. Nhưng ngay cả khi đúng như lời ông nói, vẫn còn có khả năng giết Adrian, sau đó quay lại công viên Belsize, rồi trở lại đường Heath".

    "Tại sao phải làm như thế ?"

    "Vâng, đó vẫn còn là câu hỏi, đúng không ? Động cơ gì để ông ra tay giết Adrian Ponting, một thanh niên mà ông đã từng nói rằng chưa hề quen biết, chưa từng gặp trước đó". Viên thanh tra ngồi dựa ngữa ra ghế nhìn tôi. Chuyện này vượt xa sự mong đợi của tôi. Sự tự tin của tôi bắt đầu lung lay.

    Đến lúc này Parry mới nói.

    "Ông là người đồng tính phải không ?", người này hỏi.

    Anh biết người đồng tính làm gì với nhau không ? Đợi chừng nào có, tôi sẽ cho anh biết. Câu chuyện đùa cũ kỹ hiện ra trong đầu. Tôi không thích chút nào. Không nghi ngờ gì nữa, họ đã tìm thấy "chứng cứ" là những tấm hình trên máy tính của tôi. Rõ ràng họ không tìm được thứ gì đặc biệt có liên quan vụ án này, bằng không họ đâu có đưa ra mấy chuyện liên quan giới đồng tính. Tất nhiên là không có chuyện căm ghét hay kỳ thị gì ở đây. Nhưng chuyện ấy khó có sức thuyết phục được. Mà tôi cũng khó lòng phủ nhận. Những thứ này không liên quan gì đến công việc của họ. Bỗng nhiên, tôi cảm thấy mình khá an toàn.

    "Vâng, chính thế", tôi đáp, "Việc này không vi phạm pháp luật, chắc ông cũng thừa biết rồi đấy".

    Parry đành phải rút lui, bây giờ tới phiên thanh tra Rees dấn tới tấn công, "Và nếu như ông cố tình gạ gẫm làm chuyện đó với Adrian Ponting trong lúc anh ta lảng vảng trong rừng cây, và với bộ dạng và cái mùi khó ngữi của ông lúc đó, anh ta "đá đít" ông, thì ông vẫn có thể nổi điên và vỗ nhẹ vào gáy anh ta..."

    "Vỗ nhẹ ư ?", tôi ngạc nhiên nói vì nhớ lại vết loang của máu sau gáy chàng trai, "Chúa ơi, còn nặng hơn thế nữa kia".

    "Vâng, chẳng qua đó là chuyện rủi ro", thanh tra Rees nói, " Adrian Ponting có cấu trúc vỏ não rất mỏng. Có lẽ anh ta chẳng thể nào biết chuyện ấy, nhưng bất kỳ va chạm nào ở đó đều có thể giết chết anh ta". Viên thanh tra nhìn thẳng vào mắt tôi "Chuyện xảy ra thế nào ?".

    "Làm sao tôi biết được chứ"

    "Vậy chuyện của anh ?"

    "Giống như tôi đã kể cho các ông nghe ngày hôm qua". Không thấy ai nói gì. Tôi cố giữ bình tĩnh. Sau đó nói tiếp, "Các ông không cần ghi âm hay sao ?"

    "Chỉ là nói chuyện ngoài lề", thanh tra Rees nói, "Không cần phải hình thức như thế".

    Có tiếng gõ ngoài cửa. Rees trông bực bội ra mặt. Một nhân viên cảnh sát mặc cảnh phục bước vào và thì thào to nhỏ bên tai viên thanh tra. Thanh tra Rees trông càng bực tức hơn. Ông ta đứng dậy bước thẳng ra cửa. Khi đi ngang qua tôi, ông nói, "Cuối cùng thì ông cũng có luật sư rồi. Rõ ràng có ai đó muốn luật sư tới sớm vài giờ".

    Cánh cửa đóng lại, chỉ còn mình tôi ngồi với Thám tử cảnh sát Parry. Ông ta nhìn tôi và tôi cũng nhìn ông ta. Ông ta có đôi mắt nâu xinh đẹp. Nếu như bạn ngưỡng mộ kiểu người tập thể hình, thì ông ta chính là mẫu người lý tưởng. Tôi mỉm cười, còn viên thám tử quay mặt nơi khác. Ông ta biết rõ tôi là người đồng tính và tôi cũng đang ngưỡng mộ ông ta, nhưng tất nhiên ông ta không thích "lăng nhăng" với tôi, không muốn với một kẻ bị tình nghi là kẻ sát nhân, ngay trong phòng thẩm vấn, ngay trong cơ quan cảnh sát địa phương. Lúc ấy tôi tự cho phép mình chuồi người ra mặt bàn nghỉ ngơi. Dù ở tình huống nào, tôi cũng cảm thấy bên dưới bẹn bắt đầu ngọ ngoạy rất khó chịu.

    Sau đó cửa mở, thanh tra Rees quay lại, lần này đi cùng là một người đàn ông vừa già vừa trẻ, thoạt nhìn trông rất trẻ nhưng tới khi nhìn sát thì thấy dấu chân chim ở đuôi mắt, thấy chiếc cằm hơi chảy xệ, thấy mái tóc lốm đốm bạc bên thái dương. Đây là luật sư của tôi ư ? Từ trước tới giờ tôi chưa từng gặp người này bao giờ.

    "Tôi muốn được nói chuyện riêng với thân chủ của tôi", người đàn ông nói.

    Thanh tra Rees lầm bầm gì đó và hất hàm về phía thám tử Parry. Hai người rời khỏi phòng thẩm vấn. Người đàn ông chìa tay, chúng tôi bắt tay nhau. Lòng bàn tay người này khô, thô ráp.

    "Tôi là Grant, thưa ông Silvain, tên đầy đủ là Alisdair Grant". Người đàn ông nói giọng Tô Cách Lan, rất mềm mỏng. "Bạn ông là Paul Massingham đã gọi điện cho tôi từ sáng sớm và cho tôi hay ông cần được giúp đỡ".

    "Paul sao ?".

    "Rõ ràng khi cậu ấy gọi điện cho ông lúc sớm và có người tự nhận là cảnh sát trả lời điện thoại thì Paul rất lo lắng. Người cảnh sát đó không nói chuyện gì đã xảy ra với ông. Paul hấp tấp đến nhà ông và nghe hàng xóm nói ông đã bị bắt, sau đó thì cậu ấy liên hệ với tôi. Chúng tôi là bạn bè từ rất lâu. Tôi hứa sẽ cố hết sức để giúp ông".

    Ồ Paul yêu quý của tôi... tôi yêu cậu ấy như đứa em trai của mình. Không, không phải thế. Hẳn là tôi đã mất trí khi tôi để cậu ấy vuột khỏi tầm tay. Nếu lần này thoát khỏi chuyện rắc rối này, tôi sẽ làm mọi chuyện để giữ cậu ấy lại. Nhưng hiện giờ Grant đang chờ.

    "Tôi chỉ muốn ông lôi tôi ra khỏi chuyện này", tôi nói sau khi đã giải thích mọi chuyện.

    "Thanh tra Rees có nói với tôi rằng chuyện xảy ra vượt xa sự mong đợi của ông ấy. Ông ấy nghĩ thực chất của vấn đề là có một áp lực thù nghịch với người đồng tính tấn công. Đã có nhiều chuyện tương tự như vậy xảy ra vì thế Rees và người của ông ta có phần "nhiệt tình" quá mức".

    "Nhiệt tình kiểu gì mà đá banh cửa trước căn hộ của tôi chứ !", tôi nói gay gắt.

    "Chuyện ấy chúng ta thu xếp sau cũng không muộn", Grant nói, "Thực ra người ta cũng sửa chữa tạm rồi. Bây giờ bàn sang chuyện khác".

    "Chuyện khác" ở đây tất nhiên là chuyện tôi bị bắt vì tội giết người.

    "Tôi không nghĩ họ có nhiều chứng cứ trong vụ án này đâu", Grant nói, "Ngay tại hiện trường cũng thế. Không có gì có thể cáo buộc anh có mặt tại địa điểm xảy ra vụ án. Có lẽ chúng ta phải tìm mấy tay chụp ảnh dạo trông thấy anh xuống xe điện ở công viên Belsize như lời anh nói, một người nữa từ hướng Hampstead đến để xóa tội cho anh. Nếu cố gắng một chút họ cũng có thể tìm ra những người mà anh gặp ngày hôm qua được. Bây giờ vấn đề còn lại là việc phủ nhận của ông Ponting, người đã yêu cầu anh tìm con".

    "Chúa ơi !", tôi vừa nói, vừa vỗ vỗ vào đầu mình vì trí nhớ tồi tệ của mình. "Tôi có chữ ký của ông ta. Ông ta đã ký hợp đồng tại văn phòng tôi".

    Đúng thế. Cũng trong ngày hôm đó, cảnh sát cử người tới văn phòng làm việc của tôi lấy bản hợp đồng. Vẫn chữ ký ấy. Nhưng không ai có thể nói chính xác đó có phải là chữ ký của ông Bernard Ponting hay không. Cũng có thể là của một ông Brian Peasbody, Barry Piss-elegant hay Harry Snogsworthy nào đó. Dù sao đi nữa, luật sư Grant đã bảo lãnh tôi tại ngoại (theo điều 473) mà tôi nghĩ đó là cách tốt nhất trong tình trạng hiện nay. Người ta chính thức thông báo cho tôi biết tôi phải trình diện tại sở cảnh sát vào tuần sau đúng vào ngày này, nếu không tôi sẽ bị bắt giữ và sẽ bị tước quyền được bảo lãnh. Thám tử Parry nhìn tôi, tôi vẫy tay chào ông ta - không thấy ông ta chào đáp, dù có lẽ trong thâm tâm ông cũng muốn như thế. Tôi đâu phải là trẻ con mà không biết ?

    Khi bước ra khỏi cơ quan cảnh sát, tôi ngữi thấy mùi cà ri của nhà hàng Balti bên dưới một chút. Bây giờ chúng tôi thân mật hơn, Tôi không coi ông ấy là luật sư Grant. Ông ta đưa tôi về nhà. Cửa cái đã được lắp lại và, dù nó khó có thể chịu được một cuộc tấn cống tương tự lần thứ hai, nhưng cũng có thể ngăn cản những vị khách không mời mà tới. Sau khi viên luật sư ra về, việc đầu tiên tôi làm là gọi điện cho Paul. Có vẻ chàng trai yên tâm khi nghe giọng nói của tôi, còn tôi thì chỉ muốn đến ngay với chàng trai.

    "Sao vừa rồi em lại gọi cho anh ?", tôi hỏi.

    "Em cũng không biết nữa. Suốt đêm em không ngủ được vì nghĩ về chuyện hai đứa mình. Em nghĩ chắc là mình muốn xem xét sự việc nghiêm túc, vì vậy em gọi điện cho anh trước giờ anh đi làm".

    "Em đã cứu anh", tôi nói có chút cường điệu. "Để đáp lại, anh có thể làm gì cho em bây giờ ?". Tôi vẫn chứng nào tật đó, tiếp tục cái lối nói tếu, nếu không như thế chắc tôi sẽ khóc òa ra mất.

    "Gặp em tối nay nhé", chàng trai đáp, "Lần này em không muốn nghe từ "không" ở anh đâu".

    "Ở chỗ em hay nhà anh ?", tôi hỏi, vì không có ý định nói từ "không".

    "Chỗ nào có bán thức ăn cuối tuần cũng được", chàng trai đáp, và tôi nhận ra đó không chỉ là một cuộc hẹn ăn tối.

    Coi như xong một việc, tôi tiếp tục hoạch định những việc còn lại phải làm trong ngày. Phải liên lạc với ông Pointing - cho dù cách tốt nhất vẫn là giáp mặt ông ta. Tôi nghĩ mình vẫn còn có cơ hội tìm được người đàn ông mặc áo khoác, và có lẽ tìm được cả hai tay bợm rượu cũng nên. Rõ ràng cảnh sát cũng không cố gắng hết sức trong việc tìm kiếm. Tôi gọi điện cho ông Ponting tại nhà riêng nhưng chỉ nhận được lời thoại trả lời tự động. Tôi không để lại tin nhắn, mà định bụng sẽ gọi lại sau.

    Tôi cạo râu, thay quần áo rồi ra ngoài. Ánh sáng mặt trời tháng sáu vẫn rực rỡ - thời tiết Wimbledon, dù không còn nóng bức như những ngày vừa qua. Tôi đánh xe chạy xuống Camden để ra công viên Belsize. Không thấy ai ngồi chờ ở trạm xe điện nên tôi chạy ngược lên đồi.

    Khi chạy qua quán Flask, tôi trông thấy hai gã đàn ông dựa vào tường, tay cầm vại bia - chính xác như tôi đã thấy ngày hôm qua. Tôi đậu xe trong một con đường nhỏ và đi bộ lại. Hai người này vẫn không nhận ra tôi cho tới khi tôi đến gần. "Ạ...a", người có màu da sậm nói, "Hôm qua anh có tới đây mà".

    "Tôi bắt gặp thằng bạn trai anh hít ma túy", giọng nói chẳng có chút thiện cảm.

    Tôi quyết định chơi khăm hai gã một chút, "Tôi là cảnh sát", tôi nói, "Rõ ràng các anh biết nhiều về chuyện này hơn chúng tôi".

    Hai người chưng hửng, nhưng không tỏ ra sợ hãi, họ chỉ thấy thái độ của mình trước đó không thích hợp. "Tôi không biết gì hết", một người nói.

    "Nhưng hôm qua các anh đã trông thấy nó ?"

    Hai người gật đầu..

    "Chắc là không có người đuổi theo thằng nhải đó chứ ?"

    "Ồ, lúc đó xung quanh đây cũng có vài người qua lại".

    "Không ai có vẻ gì khả nghi hay sao ?"

    "Không thấy ai theo nó vào quán của tụi pê đê".

    Tôi nhìn vào người nói nhiều nhất từ nãy đến giờ. Tôi đoán gã không phải là người xấu, chẳng qua muốn chứng tỏ mình là người bình thường hoặc là đàn ông đích thực.

    "Thằng nhải vào quán William đệ tứ phải không ?"

    "Đúng thế. Tôi và Jed ở đây đều cá nó là pê đê. Tôi nói nó chính là pê đê mà Jed lại không tin. Tới chừng nó vào cái quán đó thì tôi thắng cược. Jed phải thua một vại bia".

    "Và các anh không thấy ai theo nó vào quán sao ?", tôi hỏi gặng.

    "Không có".

    Jed nói, "Có một thằng cha mập mập".

    "Người đàn ông mặt đỏ phải không ?".

    "Vâng. Trước đây chưa từng thấy ông ta bao giờ".

    Tôi gặng lại, "Có đúng là mặt đỏ không ? Anh còn biết gì khác nữa không ?"

    "Lớn tuổi", gã bạn của Jed nói, "Tóc xám. Ăn mặc rất lịch sự".

    "Người này theo thằng nhải đó vào quán hay sao ?"

    "Ô không ! Chỉ thấy ông ta đi ngoài đường", Jed bật cười. Một trò đùa thấu cáy.

    Bực tức, tôi băng qua đường tới quán rượu tường xây gạch, kế bên một phòng trưng bày xe hơi. Quán có hai lối vào, một lối dẫn tới khu giải khát, còn một dẫn tới sàn nhảy, nhưng cả hai lối đều gặp nhau ở quầy bar phục vụ giữa quán, thành thử cũng không phải là sự phân chia khu vực rõ ràng một khi đã vào trong. Một cánh cửa bên trong dẫn ra "vườn", ở đây chỉ là khu vực vỉa hè với vài chiếc bàn gỗ nhỏ, vài chiếc ghế băng trông nhếch nhác. Có nhiều người trẻ tuổi và cả những người không còn trẻ trung ăn mặc "rất thoáng", người ta có cảm giác thấy cả "mùa hè đỏ lửa" qua y phục của họ.

    Tôi mua một cốc bia lớn, và ngồi ngoài cùng để nghe ngóng người ta nói chuyện. Không may là hầu hết đều nói về vụ án ở đường Heath. Người ta cảm thấy bị xúc phạm vì một chuyện như vậy lại xảy ra, hẳn có ai đó ngầm đe dọa họ. "Tôi sẽ không lên đó chơi nữa đâu !", một cặp tỏ vẻ lo lắng.

    Một nhóm bên tay phải bàn tán về một người tên Geoffrey.

    "Thằng bồ ngủm củ tỏi, nó buồn kinh khủng luôn, trông thật tội nghiệp", một người nói.

    "Mày có gặp nó không ?"

    "Bây giờ nó thế nào rồi ?"

    "Ngoài vườn kia kìa", một người đáp, một loạt mấy cái cổ nghễnh về phía cánh cửa dẫn ra "vườn", mặc dù chẳng ai muốn ra đó làm gì, điều đó khiến tôi hài lòng.

    Tôi bước ra ngoài.

    Có một nhóm thanh niên da trắng ngồi quanh một chiếc bàn trông có vẻ tương đắc, vui vẻ, không ai trong số họ tỏ ra có chút gì lo sợ. Ở một bàn khác, có một thanh niên da đen lẻ loi đang đăm đăm nhìn chiếc ly pha lê đựng một thứ chất lỏng bên trong, có lẻ là rượu gin, vodka hay nước lọc cũng nên. Tóc chàng trai sát da đầu, không phải cạo, nhưng rất ngắn, nước da màu sô cô la xậm. Chưa vội kết luận điều gì, tôi bước đến và nói, "Geoffrey phải không ?".

    Chàng trai ngẫng đầu lên nhìn, rõ ràng chàng trai tỏ ra ngạc nhiên về một người chưa từng quen biết. Tôi tự hỏi không biết có nên giở cái chiêu cũ rích "Chắc chắn anh phải nhớ tôi chứ, tôi gặp anh ở buổi tiệc của....", nhưng rồi tôi quyết định nói hết sự thật.

    "Tôi là Matt", tôi nói, "Matt Silvain. Tôi là thám tử tư, đang điều tra vụ sát hại Adrian Ponting".

    Ôi, trước đó anh chàng đã tỏ ra khá đau khổ nhưng sau khi nghe tôi nói xong, chàng trai càng đau khổ gấp bội. Cặp mắt nâu to tròn long lanh, dòng nước mắt chảy xuống má.

    Tôi ngồi xuống bên cạnh chàng trai, trên cùng chiếc ghế dài, theo bản năng tôi đặt tay lên mu bàn tay chàng trai lúc ấy đang để trên bàn. "Cũng khá khó khăn", tôi nói, "nhưng chắc anh cũng muốn tóm cổ thằng khốn đó, phải không ?"
    * Ủng hộ quảng cáo vì sự phát triển của Vietboy[dot]net.

    * Hãy bấm nút "Thanks" nếu bạn cảm thấy bài viết của ai đó có ích!


    Upload ảnh: http://img.vietboy.net

    New English site: http://boybb.net

  6. #6
    Tham gia ngày
    Feb 2009
    Bài gửi
    2.092
    Thanks
    0
    Thanked 49 Times in 34 Posts
    Năng lực viết bài
    480

    Mặc định Re: Hè về

    Phần 3

    "Nếu tôi có mặt ở đây thì chuyện ấy đâu thể xảy ra được", người thanh niên da đen nói.

    "Anh nói vậy là sao ?"

    "Chúng tôi có hẹn gặp nhau", chàng trai nói, "Ở đây. Nhưng tôi đến trễ. Adrian hẳn là có đến đây, nhưng không tìm thấy tôi nên bỏ đi".

    "Cậu ấy không đợi được sao ?"

    "Có lẽ cậu ấy chẳng còn tiền để mua nước giải khát. Chắc vì vậy nên không muốn ngồi đợi".

    "Tại sao cậu ấy lên đường Heath ?", tôi hỏi.

    Geoffrey nhún vai, "Đó là chỗ tháng trước chúng tôi quen nhau", chàng trai nói tiếp, "Có lẽ cậu ấy nghĩ rằng tôi lên đợi ở chỗ đó. Cậu ấy chẳng còn biết nương tựa vào ai."

    "Anh muốn nói cha cậu ấy ?"

    Geoffrey gật đầu "Khi biết Adrian là gay, ông ta ghét lắm - và nếu như ông ta biết được tôi là người da đen thì không biết ông ta sẽ điên lên như thế nào. Ông ta căm thù người da đen chúng tôi còn hơn cả người đồng tính".

    Có lẽ người thanh niên đã nhận xét đúng. Tôi càng biết nhiều điều về ông bố Ponting, thì tôi càng không ưa ông ta. Tôi chợt nghĩ tới chuyện mô tả "ông già" mặc quần áo đắt tiền mà người bạn của Jed đã nói. Dù không đầy đủ, nhưng lại phù hợp với những điều mà tôi biết về Ponting từ lần ông ta đến văn phòng của tôi. Chỉ có một chuyện mà tôi chưa hỏi, đó là người đàn ông ấy có đi khập khiểng hay không.

    Tôi không có gì nhiều để nói với Geoffrey ngoại trừ "Hãy trong quán và vui vẻ lên, mọi việc sẽ ổn thôi anh bạn". Nếu muốn kiếm bạn tình, anh chàng có thể vào trong quán. Mặc dù tới lúc này trông anh chàng cần được yên tĩnh hơn lúc nào hết.

    Tôi không nhận ra mình đã nhầm lẫn biết chừng nào. Lúc ấy tay tôi vẫn nằm trên bàn tay chàng trai, mà tôi cũng cảm thấy dễ chịu, gần gũi, tất nhiên là thuần khiết. Bỗng nhiên chàng trai trở bàn tay để áp lòng bàn tay vào tay tôi. Da thịt chàng trai ấm áp và hơi ẩm. Rồi sau đó, tôi chưa kịp phản ứng, thì chàng trai da đen kéo tay tôi đặt lên háng mình. Trời đất ơi ! Bự bằng trái chuối già. Tôi có thể cảm nhận bề tròn của nó qua lớp vải quần mỏng, nhưng khó nói được chính xác chiều dài con cặc chàng trai.

    Tôi hơi thất vọng. Đây là chàng trai, mới vừa rồi, chưa đầy một phút, còn sướt mướt vì mất người yêu và bây giờ lại nứng cặc vì một kẻ xa lạ mới gặp lần đầu. Nhưng chuyện ấy chẳng ảnh hưởng gì đến hòa bình thế giới. Tôi không muốn chàng trai nghĩ rằng tôi từ chối nên cứ để bàn tay tha hồ nổi loạn. Wow ! Wow ! và Chúa ơi !

    "Đáng tiếc là tôi có một cuộc hẹn", tôi nói, "nếu không thì tôi cũng rất thích...".

    Tôi nhìn chàng trai, đôi mắt tròn lay láy ướt át, bờ môi dày hé mở chờ đợi, mời đón trông rạo rực xuân tình. Tôi tần ngần còn chưa biết phải làm gì. Tại sao mình không thể bỏ ra thời gian còn lại trong ngày, cả buổi tối hoặc suốt đêm ngủ với chàng trai này trong khi tôi cũng đang rạo rực ? Có lẽ vì Paul cũng nên. Tôi đành rút lui ý định của mình.

    "Anh rất tử tế, anh bạn", chàng trai da đen nói.

    "Tôi sẽ cố hết sức để tóm cổ hung thủ", tôi cam đoan với chàng trai và ra về, cố không để mọi người chú ý thấy mình trong quán rượu này.

    Jed và người bạn của gã đã biến mất, vì vậy tôi ra xe. Ngồi trong xe, tôi cố gọi lại cho Ponting bằng điện thoại di động, lần này có tiếng một phụ nữ trả lời. Người đàn bà có giọng nói mềm mỏng, ngọt ngào, nhưng.... Tôi đoán là bà ta đang khóc. "Tôi là Matt Silvain", tôi nói, "Tôi muốn nói chuyện với ông Ponting".

    "Chắc nhà tôi vẫn còn tại chỗ làm", người đàn bà đáp. Lúc này mà còn tâm trí làm việc được ư ? Chỉ ngay sau ngày đứa con trai bị sát hại ?

    "Thực sự tôi rất cần gặp ông ấy", tôi nói.

    "Có lẽ chút nữa nhà tôi sẽ về. Khoảng sáu giờ".

    Tôi tắt máy. Tôi có hai giờ rảnh rang. Đột nhiên tôi lại nghĩ tới Geoffrey. Tôi tranh luận với chính bản thân mình. Mình có nên lợi dụng lúc người ta đang đau khổ và cô đơn hay không ? Nhưng biết đâu anh chàng đâu cần tình yêu hay những thứ xa xỉ như thế ? OK, đành phải chấp nhận thôi. Tôi là một thằng dâm dãng. Dù thế nào đi nữa cũng không bỏ qua cơ hội hiếm có này được. Con cặc tôi đã đòi hỏi hay ít ra con cặc chàng trai cũng muốn thế ! Cuối cùng tôi quyết định không quay lại quán rượu William đệ tứ. Tôi lái xe thả dốc xuống chân đồi để tìm xem có thể gặp lại người đàn ông mặc áo choàng xám hay không, ít ra chứng cứ ngoại phạm cũng có sức thuyết phục hơn.

    Khi lái xe chạy qua chỗ ngồi hôm trước, tôi không thấy bóng dáng người đàn ông ở đó nhưng tôi vẫn chạy tới góc đường phía trước đậu xe và đi bộ ngược lại. Một bà cụ, chắc là người địa phương, đang dắt chó đi lại trên lề đường, con chó sủa ăng ẳng khi tôi đến gần.

    "Đừng dấm dẳng với ông đây như thế, Dolly", bà cụ nói khi tôi tới bên cạnh.

    "Cô nàng không thích người lạ sao, thưa bà ?", tôi vui vẻ hỏi.

    "Không, ngay cả tôi cũng không thích", người phụ nữ nói, "Ông không hiểu đâu, suốt ngày phải giữ nó thật là phiền"

    "Nhưng có nó bầu bạn cũng vui, tôi nghĩ như vậy".

    "Hả ?", người đàn bà hỏi. Con chó sủa thêm hai tiếng và nhìn vào mắc cá chân tôi.

    "Không biết bà có biết người đàn ông hay ngồi trên chiếc ghế này không", tôi hỏi, "Ông ấy đi xăng-đan, hay mặc áo choàng xám".

    "Đó là Fred Warren", bà ta đáp, "Ồ, ai ai cũng biết Fred Warren".

    "Hôm nay ông ấy không ra đây sao ?"

    "Không thấy", người đàn bà đáp, "Đi nào, Dolly". Bà ta lôi con chó Dolly, trong khi nó cố giằng lại để nhích tới gần chân tôi. "Tránh xa chân người ta ra", bà quay sang tôi giải thích, "nó hay táp vào mắt cá nhân người khác". Bà mỉm cười hài lòng, khoe hàm răng giả trắng hếu.

    "Không biết tôi phải tìm ông ấy ở đâu đây ?"

    "Ai chứ ? Ông Fred Warren à ? Ai cũng biết chỗ ở của Fred Warren".

    Ai cũng biết trừ tôi ra, dĩ nhiên là như thế. "Chỗ đó ở đâu, thưa bà ?"

    "Đằng kia kìa", bà ta chỉ một căn nhà trên đường, kế bên lối vào trạm xe điện ngầm. Đó là một căn nhà có 3 tầng kiểu dáng thanh lịch dù đã xuống cấp một chút, lớp sơn cửa sổ bong tróc loang lổ. "Ở căn hộ à ?", tôi hỏi.

    Dolly thừa lúc đang nói chuyện đến gần táp vào mắt cá chân tôi. May thay, vừa kịp lúc tôi tránh được. Còn người đàn bà có dịp trò chuyện trông tươi tỉnh hẳn. Tôi mừng vì đã khiến cho bà vui vẻ.

    "Ở căn hộ ư ?", bà ta nhe răng cười, đáp. "Không, cưng ạ, nhà ông ta đấy. Ông ấy giàu có như Creosote, nhưng hà tiện lắm, một xu cũng không lỏi. Ông Fred Warren này có nhiều chuyện vui lắm". Người đàn bà dẫn con chó đi, tôi nghe tiếng cười giòn giã của bà ta cho tới khi khuất khỏi góc đường.

    Tôi ngồi trên ghế dài ngó qua căn nhà. Ngay cả khi ngồi ở đây, tôi cũng có thể thấy cửa sổ nhà ấy dơ bẩn thế nào, còn rèm che thì lôi thôi nhếch nhác. Không biết ông ta có thuộc loại người keo kiệt hay không nữa ? Tiền của đáng giá bạc triệu, nhưng không chịu bỏ tiền ra cho những việc cần thiết. Tôi tự hỏi không hiểu hôm nay ông ta ở đâu. Có thể ông ta còn vui thú đam mê đằng sau cánh cửa đóng kín kia cũng nên, còn cửa sổ chỉ mở khi cần thiết đón không khí trong lành mà thôi.

    Tôi đứng dậy băng qua đường, đi lên bậc tam cấp và bấm chuông. Tiếng chuông nghe vang vọng khắp tòa nhà. Tôi đợi và định bấm chuông lần nữa, nhưng có cảm giác không có người ở nhà nên lại thôi. Có lẽ để khi khác vậy.

    Tôi hơi thất vọng. Thực tình bây giờ tôi không biết phải đi đâu. Tất cả những thứ tôi có trong tay chỉ là lời của hai thằng cha thô lổ ngoài quán rượu. Tôi hy vọng người đàn ông mặc áo choàng xám này sẽ cung cấp cho tôi ít nhiều thông tin cần thiết, để xác định xem cái gã mặt đỏ, tóc xám có ra khỏi trạm xe điện bám theo Adrian lên đồi hay không. Sau đó có giết cậu ấy không ? Bởi vì cậu ấy là người đồng tính và có một người bạn trai là người da đen cũng là người đồng tính nốt ? Giả thuyết ấy có đáng tin cậy không ?

    Tôi phải gặp ông Ponting. Tôi xem đồng hồ. Bốn giờ ba mươi. Hãy còn một tiếng ba mươi phút, tôi cần trở lại nhà ông Ponting, biết đâu lời bà vợ ông ấy là lời nói dối. Họ sống ở Maida Vale, một địa chỉ dễ nhớ. Từ đây đến đó cũng mất khoảng một tiếng rưỡi.

    Căn nhà trông ấn tượng và sang trọng, mặt tiền kiến trúc thời Nhiếp chính sơn trắng, hàng rào chấn song sơn đen có hoa văn, ngăn cản không cho người ngoài xâm nhập vào. Tôi ngắm nhìn giống như một đứa trẻ tò mò. Một nhà để xe đáng để một chiếc xe sang trọng, hợp thời. Bên ngoài một dãy chậu trồng phong lữ, và một chiếc du lịch nhỏ đậu trên bãi sỏi. Không có chiếc BMW hay Mercedes nào, vì thế tôi cho rằng chủ nhân chưa về nhà. Cửa cổng là một cấu trúc kim loại với nhiều hoa văn được chế tác tinh xảo. Chúng được tra dầu nên khi mở êm ru. Cửa chính vào nhà sơn màu xanh lá nền nã.

    Một cô gái, có lẽ là người Phi-lip-pin ra mở cửa. "Tên tôi là Matt Silvain", tôi nói, "Tôi có chuyện cần trao đổi với bà Ponting".

    "Ông có hẹn trước không ?", cô gái hỏi. Tôi thoát khỏi tình trạng lúng túng khi người đàn bà xuất hiện, cao ráo, thanh nhã và xinh đẹp. Lời thơ lại vang lên trong tâm trí tôi :

    ........................................ ........
    Mẹ càng duyên dáng cơ hồ trẻ ra
    Nín đi con chớ khóc la...
    Nhưng anh chàng Adrian đáng thương có đủ mọi lý do để khóc thầm - và bây giờ cậu ấy đã chết.

    "Được rồi, Angelina", thiếu phụ nói với cô gái vẫn còn rề rà trước nhà. "Ông gặp chồng tôi có việc gì ?"

    "Xin lỗi vì đã đến quấy rầy bà vào lúc đau buồn như thế này", tôi nói, cố đeo cái mặt nạ chân thành, lịch thiệp và cẩn trọng - chuyện này đối với tôi cũng không khó lắm. Tôi cho rằng tin về cái chết đứa con trai hẳn đã khiến bà đau lòng nhiều hơn đức ông chồng.

    Người đàn bà nhường lối cho tôi vào. "Chỉ là việc ông Ponting có thuê tôi tìm hộ đứa con trai cho ông".

    "Và bây giờ ông đến đây để đòi tiền vì đã "tìm được" chứ gì ?", ánh mắt người đàn bà lóe lên tia giận dữ.

    "Không, hoàn toàn không phải thế. Sau khi cân nhắc mọi chuyện xảy ra, tôi hoàn toàn không muốn nhận thù lao thanh toán. Tôi đến đây chỉ vì việc ông ấy gây cho tôi khá nhiều rắc rối ở sở cảnh sát, bằng việc phủ nhận việc thuê mướn tôi tìm con. Tôi chỉ muốn biết rõ mọi chuyện trước khi người ta bắt nhốt tôi lại".

    "Chuyện xảy ra ảnh hưởng đến ông ấy rất nhiều", người đàn bà nói, "Ông ấy và Adrian rất thân thiết".

    Vậy sao, tôi bất nhẫn nghĩ thầm. "Nhưng hôm nay ông ấy vẫn đi làm, bà thấy rồi đấy", tôi lạnh lùng nói, không đếm xỉa vẻ mỉa mai cay độc trong giọng nói của mình.

    "Không may là chuyện xấu xảy ra. Dĩ nhiên hôm qua ông ấy không còn biết gì nữa sau khi nhận được tin báo. Tôi cũng có biết chuyện ông ấy nói về ông với cảnh sát. Tôi nghĩ đó chỉ là ông ấy nhất thời bị sốc. Ông ấy không muốn chuyện Adrian là người đồng tính bị lan truyền ra ngoài, mặc dầu theo tôi nghĩ đó là điều không thể tránh được, vì vậy ông ấy nghĩ gì nói nấy mà không cân nhắc. Đó là chuyện ngu ngốc và tôi tin rằng ông ấy sẽ đính chính lại trước cơ quan điều tra, tôi cam đoan như thế".

    "Ông bà biết Adrian là gay sao ?", tôi hỏi.

    "Ồ, có biết", bà ta đáp, "Tôi biết chuyện đó đã nhiều năm rồi. Tôi cho rằng ông ấy cũng biết, mặc dù ông ấy cố không tin. Tôi cũng biết bạn trai của nó. Adrian đã kể cho tôi nghe. Trông nó lúc ấy rất hạnh phúc". Đôi mắt người đàn bà rơm rớm nước mắt. Tôi không hiểu bà ta sẽ nghĩ gì nếu như tình cờ bà chứng kiến cảnh tôi và Geoffrey "vuốt ve" nhau trong quán William đệ tứ hôm trước.

    Nhưng rồi người đàn bà bình tĩnh trở lại. "Hôm qua mọi việc diễn ra khá tốt. Tôi sắp thuyết phục Harry chấp nhận "vấn đề" của Adrian. Chúng tôi đi Colchester để gặp mấy người bà con và trên đường về, lúc ở trên xe chúng tôi bàn với nhau về chuyện ấy - một cách bình tĩnh - và sau đó, khi về đến nhà thì thấy cảnh sát đã có mặt ở đó với tin tức như thế".

    Tôi chết lặng. Cái giả thuyết của tôi hoàn toàn sụp đổ. Không nghi ngờ gì nữa, các thám tử cảnh sát có thể kiểm tra chứng cứ ngoại phạm của ông ta thông qua họ hàng.... Tôi không còn biết phải nói gì. Chửi đổng lên có lẽ là cách thích hợp để bày tỏ cảm xúc của tôi trong lúc này. Nhưng tôi không làm thế.

    "Rất tiếc vì đã làm phiền bà", tôi vừa nói, vừa quay ra. Người đàn cả đứng ở cửa nhìn theo cho tới khi tôi ra tới vỉa hè ngoài đường. Sau đó bà ta đóng cửa. Sớm muộn gì ông chồng cũng từ sở làm quay về, lúc ấy họ có thể chia sẻ nỗi buồn cho nhau.

    Nhưng tôi còn có những dự tính khác. Hầu hết đều tập trung vào việc chuẩn bị cho kỳ nghỉ cuối tuần với Paul - vì vậy phải về nhà chuẩn bị, sau đó thì sang nhà cậu ấy. Paul nấu ăn và chúng tôi cùng ăn với nhau.

    Sau đó, tôi theo Paul vào bếp nơi chàng trai mang bát đĩa bẩn bỏ vào chậu. Tim tôi đập nhanh. Sao lạ thế này ? Phải chăng đây là sự khởi đầu của một kỳ nghỉ cuối tuần tuyệt vời bên nhau ? Tôi không phải là người thường có biểu hiện tình cảm quá mức, nhưng tôi đã hứa với chính mình sẽ làm bất cứ điều gì cho Paul nếu chàng trai giúp tôi thoát khỏi nhà tù. Paul đã làm được và đây không chỉ là sự biết ơn mà tôi cảm nhận được. Paul quay lại, đôi mắt nâu nhìn tôi như đang ra lệnh hơn là mời mọc trong khi chàng trai đến gần ôm tôi, những cảm giác cũ trước đây lại quay về.

    Nụ hôn chàng trai lúc đầu dịu dàng, ngọt ngào, càng về sau càng mãnh liệt, thúc giục. Chàng trai thì thầm gì đó bên tai mà tôi không hiểu được, vì trong lúc ấy tôi chỉ tập trung vào mỗi một việc là cởi bỏ quần áo chàng trai, trong khi chàng trai cũng làm thế với tôi. Paul không vội vã, đó là điều tôi rất thích - giống như một sự mớn trớn nhẹ nhàng, chậm rãi, giống như khi chúng tôi lần đầu ân ái. Nhớ những lần trước đó, anh chàng không chờ được lâu. Dù vậy lần này có khác. Phải mất một thời gian khá lâu để cởi cúc áo cho tôi và rà lưỡi quanh đầu vú của tôi. Tôi cảm nhận răng chàng trai nhăn nhẹ, cả người tôi nổi gai ốc. Chàng trai thốt ra những âm thanh ư ử khi bắt đầu mở khóa thắt lưng, sau đó là dây kéo, mắt mơ màng nhìn tôi. Tôi thừa hiểu cái nhìn ấy, nên với tay sờ vào háng chàng trai, nơi có cột cờ sừng sững đang đón chào tôi, dài và cứng ngắc. Không cần nói, con cặc tôi lúc ấy cũng ở trong tình trạng tương tự, ngỗng lên và cái đầu dãn dài ra gần sát mép quần. Tôi tin rằng lúc ấy đã nhểu ướt quần lót trong khi chàng trai cuối cùng cũng cởi được quần dài bên ngoài, quỳ xuống và nhăn nhăn bên ngoài lớp vải quần lót dọc theo thân cặc càng làm ướt thêm, cái đường hằn theo thân cặc lộ rõ ra bên ngoài lớp vải. Tôi ngã đầu ra sau và đột nhiên nhận ra mình còn đang ở trong nhà bếp, giữa chiếc bàn ăn bừa bộn và đống chén bán bẩn chưa rửa. Mặc dù không muốn mất hứng, nhưng tôi vẫn cần có chiếc giường êm để chàng trai nằm xuống và làm được nhiều việc mà tôi từng mơ đến khi đặt chân vào căn hộ của Paul.

    Tôi bế xốc chàng trai đi về phòng ngủ, quần áo chúng tôi rơi vải trên sàn nhà. Paul nằm bên cạnh tôi, cái cảm giác trống vắng của kẻ "phòng không" biến mất, thay vào đó là tình cảm dạt dào, đầm ấm. Tôi chật vật mới cởi bỏ hết quần áo của chàng trai, chỉ còn chiếc quần lót lại trên người giống như tôi. Nếu tôi từng nghĩ sẽ tìm thấy những thứ này ở những gã đàn ông khác thì hẳn là tôi đã nhầm lẫn. Có rất nhiều "hàng độc" cho tôi lựa chọn, nhưng chỉ một Paul Massingham là dành riêng cho tôi. Tôi ngắm nhìn thân thể chàng trai, rồi ép cặc vào nhau, để nghe cậu ấy rên lên vì sướng, đôi tay và lưỡi Paul làm tôi quíu cứng cả người. Một lần nữa tôi tự nhủ phải cho chàng trai tất cả những gì mình có được. Đôi tay ấy luồn trong quần lóp bóp nắn cặp mông tôi rồi lách vào khe hẹp, Cặp môi chàng trai cuồng nhiệt đến nỗi tôi không còn thở được. Tôi rời chàng trai để thở, rồi lăn sang một bên bắt đầu liếm láp thân thể chàng trai; mùi thịt da chàng trai thơm và dễ chịu, mùi hương xà phòng tôi quen dùng.

    Khi lưỡi tôi lần xuống đến rốn, chàng trai vặn vẹo mình cười khúc khích vì nhột, Paul ấn đầu tôi tụt xuống phía dưới sâu hơn. Theo đà, lưỡi tôi kéo dài theo thân cặc Paul và dừng lại liếm ở đầu khấc rỉ rả giọt sương. Khi đã vét sạch, tôi ngoạm đầu khấc vào miệng và cặp môi miết chặt chạy tới, xuôi theo chiều dài thân cặc cho đến khi chạm tới gốc cặc phủ đầy lông. Nói thì có vẻ dông dài, nhưng việc làm chỉ trong tích tắc, chàng trai rên lớn, đôi tay chàng trai hoảng loạn mò mẫm tìm cặc của tôi, tôi trở người để cặc mình ngay trước mặc chàng trai. Sau đó, tôi cảm nhận cái miệng nóng hổi đang nuốt dần từng phân chiều dài con cặc tôi vào miệng. Cái tư thế 69 đã giúp chúng tôi lấp lổ cho nhau trọn vẹn. Mũi tôi thở mạnh, miệng vừa bú cặc Paul vừa rên ư ử như chú mèo làm nũng, chân Paul dang rộng để tôi mặc tình "xử trí tình huống" đến tận khu vực đại bản doanh bên dưới hai ụ pháo. Chàng trai quíu lên, cứ nhìn sự chuyển động của các bắp cơ sau mông, hai bên đùi và cái bụng thóp vào dãn ra cũng đủ biết chàng trai sướng như lên mây, riêng tôi cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Ngón tay chàng trai thụt vào rút ra bên dưới lổ đít làm tôi sướng run, sướng phát điên lên được. Được một lúc, chàng trai chủ động lấy bao cao su trùm lên đầu cặc và vuốt dọc theo con cặc của tôi, dù lớp nhựa mỏng bao bọc bên ngoài nhưng tôi vẫn phải rùng mình vì động tác vuột ngược ra gốc cặc ấy. Chàng trai nằm ngữa ra giuờng và kéo tôi chồm lên người.

    Chỉ nghe đầu cặc chui vào đường hầm mới được một đoạn là tôi muốn la làng. "Đừng để em đợi nữa", chàng trai nói, mặt ửng đỏ vì khao khát. "Em cần anh". Tôi cũng cần chàng trai. Cái cảm giác ấy khiến tôi ngây ngất... Mũi tiến công thọc sâu đã bẻ gãy hàng phòng ngự nơi tiền đồn của đối phương. Gương mặt Paul không có biểu hiện gì khó chịu, vì thế tôi dấn sâu từng chút một, một tay tôi chống lên giường chịu sức nặng cơ thể mình, còn tay kia cầm cặc, giống như vị tướng đang điều động binh mã tiến công. Cái cảm giác hân hoan náo nức khi chiếm lĩnh trận địa cũng đến với tôi lúc này, khi mà các cánh quân đã tiến sâu và chiếm giữ thành trì sâu bên trong lãnh thổ đối phương, cảm giác chinh phục như bổ sung vào nguồn hưng phấn ân ái khiến tôi tê rần khắp người.

    Đôi tay chàng trai với ra sau bóp mông tôi và ghì chặt để tôi đâm cặc sâu hơn, để có thể lắc lư trên mông, để có thể nghe cơ bắp, thịt da đụng chạm và vỗ vào nhau lạch bạch, để vòng cơ thít chặt. Tôi cúi xuống hôn chàng trai trong khi vẫn nhấp nhữ cặp mông đều đặn bên dưới giống như trò mèo vờn chuột, hết bắt lại thả, hết đút vào rồi lại rút ra. Paul rên thành tiếng khi tôi vừa gia tăng nhịp đụ, vừa xóc xóc con cặc chàng trai. Khi thấy vùng cổ và vai mỏi mê, tôi hôn chàng trai và sổng lưng mà đụ tới tấp.

    Cặp mắt khép hờ, đôi môi cong rên xiết, gương mặt nhăn nhó vì "nỗi đau" tự nguyện, cuối cùng chàng trai cũng phải thốt lên "nữa, nữa đi anh", và "nhanh lên, đụ mạnh lên anh ơi". Tôi chỉ việc thỏa mãn những ước muốn của chàng trai. Chúng tôi ngụp lặn trong sự kết hợp hoàn hảo, chàng trai dạng chân, hẩy mông đón nhận trong khi tôi hùng hục đẩy vào, vòng cơ tiếp tục xiết quanh thân cặc, tinh dịch bên trong bìu dái tôi sôi lên sùng sục, còn bên ngoài, khắp người mồ hôi nhỏ giọt. Tôi không thể nhớ chính xác sự việc vài giây sau đó, mà chẳng còn sức để mà nhớ trong khi tâm hồn đã bay bổng, toàn thân đê mê... Nhưng tôi vẫn nhận thức rõ mình đang trút sạch vào người Paul. Con cặc chàng trai nở ra, cái đầu cặc bóng nhẩy căng như da quả bóng và "bùm", quả bóng nổ, tinh dịch chàng trai bắn phọt trên không trung, văng trúng ngực tôi, lại rơi xuống người chàng trai ở mặt, ở cằm, ngực và tràn trề trên đám lông háng. Paul lẩm bẩm "Chúa ơi, không ngờ anh chơi cừ như thế". Tôi coi đó như một lời tán dương. "Đừng đi, anh", Paul nhìn tôi đắm đuối và nói. Tôi cúi xuống hôn chàng trai và rũ xuống vì mệt lữ và hạnh phúc tràn đầy.

    Tôi hơi ngạc nhiên vì không thấy xìu lại như mọi lần, hẳn là chàng trai khiến tôi nứng... Chỉ có nguyên nhân ấy mà thôi... chúng tôi nhìn nhau cười, lớp cơ bên dưới đít chàng trai tiếp tục co thắt, tôi không có sự lựa chọn nào khác. Paul cười khúc khích như trẻ con, chàng trai khóa chân sau lưng tôi và tôi không thể thoát khỏi bẩy tình. Tôi lại trượt vào đường hầm trơn trợt, ẩm ướt, một lần nữa con cặc tôi lại cương lên cứng ngắc. Không biết anh chàng này muốn làm gì tôi đây ?....

    Hôm sau, chúng tôi cùng lái xe ra công viên Belsize. Đi đâu có đôi cũng thú. Dù Paul không nói gì, nhưng tôi cũng đoán được ý nghĩ chàng trai như vậy. Tôi tự hỏi nếu là "partner" không biết sẽ như thế nào nhỉ - ý tôi nói là "partner" trong công việc. Sẽ có đủ thời gian mà ngắm nhau không chán mắt. Tuy nhiên thực tế không dễ dàng như vậy, công việc tôi làm không đủ khả năng trả lương cho hai người - mà đôi khi cũng chẳng đủ trả lương cho một người, nghĩ tới đây tôi chợt nhớ tới lời mình nói với bà Ponting rằng tôi không nhận thù lao. Trời ơi, sao mà ngu ngốc thế, ngu hết chỗ nói.

    Tôi đâm ra nổi cáu với chính bản thân. Dường như hiểu được điều gì diễn ra trong đầu tôi, chàng trai nắm tay tôi bóp nhẹ như an ủi vỗ về. Tôi thích cảm giác ấy, vì biết rằng hiện giờ chàng trai đang ngồi bên cạnh mình.

    Chúng tôi chạy qua Camden, Chalk Farm và ngược lên đồi Haverstock. Người ta đổ đầy ra đường đi mua sắm cuối tuần. Khi chúng tôi rẽ vào góc đường thì công viên Belsize hiện ra trong tầm mắt, hình như có điều gì đó không ổn. Tôi có cảm giác thật tồi tệ. Có hai xe cảnh sát và một chiếc xe cứu thương đậu bên ngoài tòa nhà của Warren.

    "Lại chuyện gì nữa đây ?", tôi lẩm bẩm.

    "Mình về nghen anh ?", Paul hỏi, "Chỉ chạy qua rồi về nhà luôn".

    Nhưng tôi không thể. Tôi đoán đó là lý do mà tôi là một thám tử tư như tôi phải nhúng mũi vào mọi chuyện. Tôi tìm chỗ đậu xe và đi bộ trở lại. Một đám đông bu quanh vỉa hè phía trước cửa vào ngôi nhà. Một cảnh sát viên mặc cảnh phục đang đứng ở đó. Người này không giống người đã đến hiện trường ở đường Heath nhưng tôi vẫn nghĩ là một người. Khi chúng tôi đến nơi, lúc ấy có một người đàn ông từ trong nhà đi ra. Thám tử cảnh sát Parry. Chúng tôi nhìn nhau và nhận ra nhau ngay.

    "Ông làm quái gì ở đây ?", viên thám tử hỏi.

    "Tôi tới hỏi chuyện Fred Warren".

    Viên thám tử thở dài, "Làm sao ông biết vậy ? Mà thôi, tốt nhất vào trong này mà nói chuyện".

    Viên thám tử trở bước vào trong, tôi và Paul theo sau. Đám đông trông theo với vẻ tò mò. Tôi còn trông thấy cả bà cụ già với con chó hay cắn bậy, nên đưa tay vẫy chào. Thế là bà cụ trở thành trung tâm của mọi sự chú ý.

    Bên trong sảnh, âm u, trần nhà cao với lớp giấy dán tường cũ lỗi thời, Parry quay sang nhìn Paul, "Ai đây ?" viên thám tử hỏi.

    "Paul Massingham", tôi đáp "Partner của tôi". (ND : partner cũng có thể hiểu là tình nhân hoặc là người cộng tác chung, hoặc đồng sự... tùy theo ngữ cảnh).

    Tôi có thể thấy cặp mắt biểu cảm của viên thám tử, ông ta tự hỏi không hiểu tôi dùng từ này với ý nghĩa nào. Còn tôi thấy Paul lộ vẻ bối rối.

    "Thôi được", Parry nói, "bây giờ cho tôi biết quý vị muốn gặp Warren về chuyện gì".

    "Ông ấy chính là người hôm qua tôi đã kể cho các ông. Là người mặc áo choàng xám nói với tôi rằng có thấy Adrian trên đường tới Heath. Chính là người mà các ông không tìm ra chứ còn ai".

    "Nhưng sao sáng qua ông không chịu nói tên ông ấy", Parry tỏ ra nghi ngờ.

    "Nhưng mãi đến chiều qua tôi mới biết tên ông ta", tôi đáp, "tôi đi quanh đấy hỏi thăm và gặp bà già dắt theo con chó, bà ấy nói cho tôi biết. Cứ việc hỏi bà ấy nếu anh không tin tôi, nhưng nhớ coi chừng mắt cá của anh đó".

    Parry lầm bầm.

    "Có chuyện gì xảy ra với Warren vậy ?", tôi hỏi.

    "Bà hàng xóm lo lắng vì hai ngày nay không thấy ông ta xuất hiện. Bà ta báo cảnh sát và khi chúng tôi đập cửa xông vào thì đã thấy ông ta treo cổ lòng thòng dưới sợi dây. Có lẽ đây là vụ tự sát. Có một tờ giấy để lại nhưng nội dung xem ra chẳng có gì rõ ràng lắm".

    " 'Trùm sò đấy", tôi nói, " lúc đầu tôi cứ tưởng ông ấy là dân bụi đời, ai dè lại là triệu phú. Lá thư nói gì vậy ?"

    "Tôi không thể nói ra được", Parry làm ra vẻ quan trọng.

    "Biết đâu tôi có thể giúp được cho ông".

    Parry nhìn tôi một lúc như để cân nhắc lời nói của tôi. "Được rồi", ông trao cho tôi một mảnh giấy để trong bao nhựa đựng vật chứng. Trong mảnh giấy viết :

    "Tôi không cố ý làm như vậy. Đó chỉ là tai nạn. Cậu ấy tưởng tôi theo dõi cậu ấy nên chộp tay tôi giữ lại. Mọi việc tôi làm là đẩy cậu ấy ra, cậu ấy mất đà và ngã xuống. Khi không thấy cậu ấy ngồi dậy, tôi quay sang nhìn và thấy..."

    "Khó có thể nói ông ấy tự sát vì chưa có gì rõ ràng hết".

    Tim tôi đập mạnh. Tôi nghĩ mình có một lời giải thích thỏa đáng. Tôi nhớ thái độ Warren suýt nhảy dựng lên khi tôi đưa cho ông ta xem tấm hình của Adrian. Tôi có thể thấy bùn đất nơi mắt cá chân ông ta, dấu vết trầy xước bởi vướng bụi cây mâm xôi. Phủ nhận việc tìm trai. Ông ta có quá cẩn thận không ? Nói cho cùng đó là một tai nạn bất ngờ, nhưng muốn hay không, Warren cũng có trách nhiệm trong cái chết của Adrian. Và không thể tiếp tục cuộc sống với mặc cảm đầy tội lỗi, với sự dày vò của lương tâm.

    "Ôi Chúa ơi", tôi thảng thốt kêu lên khi đã có một lý giải trong đầu.

    HẾT
    * Ủng hộ quảng cáo vì sự phát triển của Vietboy[dot]net.

    * Hãy bấm nút "Thanks" nếu bạn cảm thấy bài viết của ai đó có ích!


    Upload ảnh: http://img.vietboy.net

    New English site: http://boybb.net

+ Viết bài mới

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình
  •